RSS

PHÙNG QUÁN – THI SĨ VỆ QUỐC ĐOÀN

21 Jul

Lời mẹ dặn

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi 
Mẹ tôi thương con không lấy chồng 
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải 
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn 
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ 
Ngày ấy tôi mới lên năm 
Có lần tôi nói dối Mẹ 
Hôm sau tưởng phải ăn đòn 
Nhưng không Mẹ tôi chỉ buồn 
Ôm tôi hôn lên mái tóc 
– Con ơi – Trước khi nhắm mắt 
Cha con dặn con suốt đời 
Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi chân thật là gì? 
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt 
Con ơi một người chân thật 
Thấy vui muốn cười cứ cười 
Thấy buồn muốn khóc là khóc. 
Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét 
Dù ai cầm dao dọa giết 
Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi: 
– Bé ơi, bé yêu ai nhất? 
Nhớ lời mẹ tôi trả lời: 
– Bé yêu những người chân thật. 
Người lớn nhìn tôi không tin 
Cho tôi là con vẹt nhỏ 
Nhưng không! những lời dặn đó 
In vào trí óc của tôi 
Như trang giấy trắng tuyệt vời 
In lên vết son đỏ chói. 

Người làm xiếc đi giây thật khó 
Nhưng chưa khó bằng nhà văn 
Đi trọn đời trên con đường chân thật. 

Năm nay tôi hai mươi nhăm tuổi 
Đứa bé mồ côi thành nhà văn 
Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét 
Dù ai cầm dao dọa giết 
Cũng không nói ghét thành yêu 

Tôi muốn làm nhà văn chân thật 
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi 
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã 
Bút giấy tôi ai cướp giật đi 
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

* * * * * 

Ngày 19/3/2011 tại Văn Miếu-QuốcTử Giám, Hà Nội, Hội sử học Việt Nam phối hợp với Dòng tộc họ Phùng Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo HỌ PHÙNG TRONG  LỊCH VIỆT NAM. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc tham luận của nhà thơ Ngô Minh tại cuộc Hội thảo này. 

Phùng Quán (1933-1995)

Tôi quen thân  anh chị Phùng Quán – Bội Trâm từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nghĩa là đã hơn 30 năm rồi. Mỗi lần anh Quán vô Huế, anh đều rủ tôi theo anh đi đọc thơ, uống rượu ở các cơ quan, gia đình người hâm mộ. Anh lúc nào cũng áo Mán, quần bò, đeo cái bị cói, đi chiếc xe đạp cuốc Liên Xô cao lênh khênh và đi đôi dép cắt từ lốp ô tô nặng chịch… Anh bảo dép nặng như thế này mới đứng vững trên mặt đất. Ở Huế, cuộc nhậu nào hết mồi là anh lẳng lặng đứng dậy đi mua, không bao giờ sai em út. Cơ quan tôi Báo Thương Mại ở Lò Đúc, có phòng khách, nhưng mỗi lần ra Hà Nội tôi đều về ở với anh trên Chòi ngắm sóng. Anh chị coi tôi như đứa em, có chuyện gì cũng kể. Khi tôi vô Huế, anh thức dậy rất sớm , nấu cơm, hơ lá chuối gói cơm nắm, vót cật trẻ làm dao cắt cơm, rồi muối mè để em ăn dọc đường cho an toàn. Từ ngày anh Phùng Quán qua đời, bao nhiêu bài viết của anh Quán hay những bài các nhà văn nhà báo trong và ngoài nước viết về anh Quán, chị Bội Trâm đều cắt gửi vào Huế cho tôi cất giữ. Có thể nói Phùng Quán là một trong ít nhà văn Việt Nam được các nhà văn nhà báo viết bài nhiều nhất. Nhờ khối tư liệu đó, tôi và chị Bội Trâm đã làm được mấy cuốn sách cơ bản về nhân cách và tài năng Phùng Quán như Nhớ Phùng Quán, Phùng Quán còn đây, Ba phút sự thật. Những cuốn  sách được độc giả đánh giá rất cao

Phùng Quán (1932-1995) là nhà văn để lại nhiều dấu ấn đặc biệt trong trong lịch sử văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Đặc biệt vì anh có hàng chục tác phẩm được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ. Tiểu thuyết thơ Trăng Hoàng Cung, tiểu thuyết  Tuổi thơ dữ dội, bài thơ Lời mẹ dặnĐêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe là những tác phẩm để đời. Bài thơ Lời mẹ dặn là tuyên ngôn long trọng nhất của người cầm bút. Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo (1955) đã được tái bản  hơn 13 lần. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội (1988) được dựng thành phim cùng tên, được giải thưởng Hội nhà văn , giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng năm 2000, được in đi in lại gần chục lần. Phùng Quán đã được Giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu năm 1955 và Giải thưởng Nhà nước 2007. Chỉ chừng ấy thôi cũng là mong ước của hàng trăm nhà văn xứ sở. Phùng Quán đã phải vượt qua vô vàn tai ương, đau khổ, bị treo bút suốt 30 năm trời sau vụ “Nhân văn-Giai phẩm”.  Nhưng anh vẫn  giữ vững được bản lĩnh của chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn, sống nhân cách “ngay thẳng tột cùng/ sự ngay thẳng  thuỷ chung/ của mỗi dòng chữ viết”, còn giữ được sự đam mê văn chương cho đến ngày cuối đời. Nghĩ về Phùng Quán trong tôi luôn hiện lên một con người nghĩa khí, một chiến sĩ Vệ Quốc đoàn trung thực, quyết liệt, một thi sĩ tài hoa ngất ngưỡng và một nhân cách cao cả.

Phùng Quán mới học hết tiểu học (primair) thời Pháp, rồi mò cua bắt ốc ở làng  Thanh Thuỷ Thượng (nay là phường Thuỷ Dương, thị xã Hương Thuỷ). Anh trốn mẹ đi theo Vệ Quốc Đoàn năm 14 tuổi (1946) ở trong đội liên lạc thiếu niên của Trung đoàn 101 Trần Cao Vân, Huế. Chính liên lạc viên Phùng Quán là người cầm mệnh lệnh nổ sứng kháng chiến đêm 19 tháng 12 năm 1946 của Mặt trận Huế từ từ Nam sông Hương đưa sang cho sang cánh quân bên kia sông. Những trang đầu tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội – cuốn tự truyện xúc động , nhà văn kể anh đã trốn mẹ, chui bừa vào hàng ngũ đội thiếu nhi trinh sát của Vệ Quốc Đoàn với “độc cái áo cộc nâu hở cả rốn với cái quần đùi xanh bạc phếch, đít vá hai miếng to tướng”. Đó là thằng Mừng. Anh đội trưởng hỏi: “Em có thích đánh Tây không? – Dạ, thích lắm. – Tại sao thích? … – Dạ, dạ… vì tuy Tây hay đá đít người mình…”. Phùng Quán yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân, chiến đấu hết mình vì Tổ Quốc. Anh là nhà văn chiến sĩ đã đi trọn đời với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời, không tạt ngang, không dừng bước. Chính tình yêu Tổ Quốc nồng nàn đó đã tạo cho anh một bản lĩnh kiên cường, không dung thứ với những tệ nạn xã hội sau chiến tranh. Trong bài thơ Chống tham ô lãng phí anh viết :

Các đồng chí ơi

Tôi không nói quá

Về Nam Định mà xem

“Đài xem lễ”  họ cao hứng dựng lên

Nửa chừng bỏ dở

Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió

Mồ hôi máu đỏ mốc rêu…

Bởi thế mà anh đòi phải lập một đội quân chống tham ô lãng phí, và anh thét lên: Trung ương Đảng ơi! / Lũ chuột mặt người chưa hết  / Đảng cần lập những đội quân trừ diệt / Có tôi  / Đi trong hàng ngũ tiên phong. Tiếc thay bài thơ đầy tâm huyết cách mạng đó đã bị một số người, vì sự tiến thân của mình hay vì thiển cận đã suy diễn quy vào tội nói xấu chế độ. Và tai ương đã giáng lên đầu chàng trai 23 tuổi Phùng Quán. Nhưng, nhà thơ -chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn ấy 30 năm sau vẫn một mất một còn với thói tham nhũng – đạo đức giả. Năm 1988, viết Tiểu thuyết tình 13 chương Trăng Hoàng Cung, ngay trong phần “Khai Từ”  nhà thơ tỏ rõ thái độ đó. Anh vẫn là người lính cầm khẩu tiểu liên báng gập – Thơ đánh vỗ mặt thói dối trá, đạo đức giả, tệ quan liêu tham nhũng… đang có nguy cơ làm băng hoại những gì thiêng liêng, cao quý mà cả triệu người suốt thế kỷ qua không tiếc máu xương để tạo dựng, bảo vệ…”  Chương mở đầu của “Tiểu thuyết tình 13 chương”  là tuyên ngôn Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ dòng. Là nhà văn Tôi yêu tha thiết / Sự ngay thẳng tột cùng / Sự ngay thẳng thuỷ chung / Của mỗi dòng chữ viết. Vì thực tế đã  không ít nhà văn Khi bàn tay đã đuối/ Khi tấm lòng đã mỏi/; Khi con mắt bớt trong/ Khi dũng khí đã nguội… thì không còn viết ngay thẳng được nữa.. Lúc ấy ngòi bút của họ sẽ uốn theo nóng lạnh cuộc đời để kiếm bổng lộc, chức tước, mặc nhân dân đói cơm, rách áo. Phùng Quán tự vấn: Tôi có quyền gì được no hơn nhân dân tôi một miếng ăn ? / Tôi có quyền gì được lành hơn nhân dân tôi một manh áo ?/ Tôi có quyền gì được rộng hơn nhân dân tôi một mét vuông nhà ở ? / Tôi có quyền gì được lên xe xuống ngựa / Khi gót chân nhân dân tôi nứt nẻ bụi đường ?!… Những câu thơ như tiếng gọi khẩn thiết của lương tri gửi đến con người, đánh trực diện vào  bọn “tiêu máu nhân dân như tiêu bạc giả”!

Cái chất Vệ Quốc Đoàn ấy đã giữ cho Phùng Quán những năm bị tai ương trong các cuộc kiểm điểm đã không làm cái việc hèn hạ là “tố cáo” các văn sĩ đồng nghiệp của mình, đã không quỳ gối như một số nhà văn bị nạn khác, viết nhiều bài thơ văn xưng tụng giả dối, gửi lên trên để cầu mong “tha tội”. Theo tôi được biết trong những người “dính” Nhân Văn-Giai phẩm chỉ có Phùng Quán và Hữu Loan là không cần cầu xin ai. Hữu Loan bỏ về quê Thanh Hoá đập đá nuôi con. Còn Phùng Quán dự  định vào Quảng Bình câu cá  trên sông Nhật Lệ. May nhờ có chị Bội Trâm mà anh đã ở lại Hà Nội. Để sống anh đã câu cá trộm, viết văn chui. Anh viết lời cho hàng trăm tập truyện tranh của Nhà xuất bản Văn Hoá Dân tộc ký tên người này người nọ để kiếm nhuận bút nuôi con. Còn cái tên Phùng Quán thì chỉ dành cho thơ: Thơ là mạng sống – là lý lịch đời tôi.  Trong tiểu thuyết thơ Trăng Hoàng Cung có chương thơ Tình tuyệt vọng. Phùng Quán muốn nói đến sự hắt hủi, vùi dập của cuộc đời đối với mình và những người cùng ý chí. …Em giận dữ la lên :/ – Đứng trong xó nhà cũng không được đứng/… Thì tôi xin ra đứng trước hiên…/ – Đứng trước hiên cũng không được đứng! / …Thì tôi xin ra đứng ngoài ngõ…/ – Đứng ngoài ngõ cũng không được đứng! …Thì tôi xin ra đứng đầu đường…/…/ – Đứng đầu đường cũng không được đứng!- Lời yêu thương cũng không được nói!/ …\Thì tôi xin chết…/ Nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt/ Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…/ Dù hoả táng/ Dù chôn xuống chín tầng đất / Trái tim dập nát của tôi vẫn thắm một khối tình!  Bài thơ quá đau buồn. Mỗi lần tôi đọc lại đều nổi da gà trước hình tượng thơ ám ảnh. Đích thị đây là chân dung Phùng Quán từ một anh Vệ Quốc Đoàn, anh Bộ đội Cụ Hồ, trở thành  một nhà văn trước sau vẫn thuỷ chung như nhất dù cuộc đời đen bạc, không chấp nhận mình. Vâng, trái tim dập nát của tôi vẫn thắm đỏ một mối tình !         

Gia đình Phùng Quán: Phùng Quán, Con gái Phùng Quyên, con trai Phùng Quân và chị Bội Trâm

Phùng Quán có bài thơ Hoa sen gần đây gây tranh luận. Với trực cảm của một chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn, nhà thơ đòi đuổi câu ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen / Lá xanh bông trăng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng là sen / Gần bùn mà chẳng hôi tanh  mùi bùn ra khỏi kho tàng văn học dân gian vì nó mang “mùi phản trắc”. Anh cho rằng câu ca dao trên không  phải do nhân dân làm ra, mà do bọn phản trắc “vốn con cái của giai cấp cùng khổ / Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son/ Nghĩ đến mẹ cha chúng xâu hổ”, nên chúng cho rằng  chúng gần bùn mà chẳng  hôi tanh mùi bùn. Tất cả là ở trong cái chữ gần. Tôi cho rằng sự phát hiện ra tứ thơ đó là có lý, xuất phát từ sự nhạy cảm của một người lính luôn đối mặt với các ác, cái giả dối, sự vong ân bội nghĩa. Và qua sen-bùn một lần nữa Phùng Quán ca tụng nhân dân đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ. Đó là sự gửi gắm của nhà thơ. Những điều nhà thơ nghĩ ngợi về chuyện sen-bùn là chân lý sâu sắc, thấm thía. Mỗi lần đọc bài thơ này trước đông người, Phùng Quán vung tay giận dữ rồi giọng trầm xuống run run nén lại như nguyện cầu: “Bùn với sen đâu phải chuyện gần ?/ Chính là sen mọc lên từ trong đó / Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen/… Ngay cả hương thanh  khiết ta đặt lên bàn thờ cúng/ Cũng là xương thịt của bùn tanh/ Như nhân dân , gian truâm lặng, vô danh/ Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng. nghệ sĩ.” Cái tứ thơ Hoa sen ấy cũng bắt nguồn từ  trực cảm của thi sĩ mà cái chất Vệ Quốc Đoàn  đã ngấm vào máu thịt.

Đời sống thì quẫn bách, chui đụt, nghèo xơi xác, lấy vợ không đi sêu, không dạm hỏi, không có rước dâu, lễ cưới, đẻ con không đủ tiền mua sữa, mua tả lót… Lấy vợ sinh con 20 năm vẫn chưa có căn phòng để trú thân, nhưng Phùng Quán không kêu ca, phẫn uất, mà trái lại văn chương Phùng Quán lại luôn hướng đến cái cao cả. Đó chính là nhân cách nghệ sĩ đích thực tuyệt vời. Trong trường ca Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, hình tượng chị Võ Thị Sáu chính là hình tượng người cộng sản trước quân thù :

                      Trên đường vào đảo hôm qua

                       Nghiêng mình Sáu hái bông hoa ven rừng

                       Cài lên mái tóc rối tung

                       Cất cao tiếng hát giữa vòng lưỡi lê

Hình tượng thơ thơ hư cấu này của Phùng Quán đã biến thành thực, tạo nên một nét đẹp trong hồ sơ anh hùng Võ Thị Sáu mà người đời nhắc đến như một biểu tượng quen thuộc. Trong bài thơ Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, cái cao cả được đúc kết khổ thơ minh triết: Đã đi với nhân dân/ Thì thơ không thể khác/ Dân máu lệ khốn cùng/ Thơ chết áo đắp măt. Đặc biệt, Phùng Quán đã thể hiện tuyệt đối chính xác lý tưởng cao cả  trong thái độ tôn vinh các yêu tố “ chân thật”, “trung thực” trong bài thơ nổi tiếng “Lời mẹ dặn”:

                         …Yêu ai cứ bảo là yêu

                          Ghét ai cứ bảo là ghét

                          Dù ai ngon ngọt nuông chiều

                          Cũng không nói yêu thành ghét

                           Dù ai cầm dao doạ giết

                           Cũng không nói ghét thành yêu

                          Tôi muốn làm nhà văn chân thật

                          Chân thật trọn đời

                           Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

                           Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

                           Giấy bút tôi ai cướp giật đi

                            Tôi sẽ cầm dao viết văn lên đá.

Đây là tuyên ngôn long trọng của người cầm bút, thứ mà các nhà văn Việt Nam trong suốt  tám kỳ Đại hội vẫn luôn đau đáu, bàn luận, hội thảo , mà  chẳng có kết luận nào. Đó chính là chân lý Tự do Sáng tạo. Mới hay Phùng Quán đã rất mới trong tư duy sáng tạo văn chương từ 56 năm trước, khi anh mới ngoài tuổi  20, còn rất trẻ.. 

14 tuổi đã tham gia Vệ Quốc Đoàn, Phùng Quán không có thời gian để đến trường học tập. Nhưng anh đã đọc sách rất nhiều, nhờ đó anh đã tạo được cho mình cái phông văn hoá, tầm nhìn xa để viết  nên các tác phẩm để đời. Từ sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, bị đuổi khỏi quân đội, khaỉ trừ  khỏi Hội Nhà văn một năm (mà 30 năm sau mới phục hồi), không nghề nghiệp kiếm sống, tứ cô vô thân, phải đi cải tạo lao động hết nới này đến nơi khác, rồi lấy vợ, sinh con, 30 năm treo bút… đã đúc nên một Phùng Quán khác: Một Phùng Quán trầm tĩnh, chiêm nghiệm, một Phùng Quán đau đời, một Phùng Quán nhân tình thế thái. Tất cả thơ  Phùng Quán viết trong giai đoạn này đều thấm đẫm triết lý cuộc đời sâu sắc như Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, Lời mẹ dặn, Tiểu thuyết thơ Trăng Hoàng Cung, Cây xương rồng.v.v… Còn tất cả các tác phẩm văn xuôi của Phùng Quán  như Tuổi thơ dữ dội. Dũng sĩ chép còm là anh viết về chính mình. Viết về nỗi đau của mình. Viết để nói với người đời rằng: Tôi không phải là nhà văn phản động, chống chế độ như người ta buộc”. Điều lạ lung là các tác phẩm này đều kết thúc bằng cái chết của các nhân vật. Trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, đoạn kết thúc, chú bé chiến sĩ thiếu nhi trinh sát Trung đoàn Trần Cao Vân tên là Mừng vĩnh biệt người mẹ (là tổ trưởng dân công anh hùng) hấp hối: “Mừng nhào xuống đáy huyệt, ôm chặt xác mẹ, nức nở kêu gào. Con không phải là Việt gian. Con là Vệ Quốc Đoàn mạ ơi!”. Rồi khi Mừng tử thương, áo quần đẫm máu, trên đài quan sát bảo vệ chiến khu Hoà Mỹ, trước khi chết, Mừng đã  hét qua điện thoại với Trung đoàn trưởng: “Anh ơi, đừng nghi em là Việt gian nữa anh hí!”. Thật đau đớn và xúc động. Phùng Quán có lần viết “Đằng đẵng suốt hai mươi năm trời, với nghị lực và lòng can đảm chiến sĩ, tôi tận sức chiến đấu để tự minh oan cho mình”. Phùng Quán không thù hận ai, anh chỉ lẳng lặng viết để người đời hiểu rằng mình là một nhân cách, một Vệ Quốc Đoàn thứ thiệt. Điều đó thật khó đối với một con người trong môi trường cực đoan tệ hại. Thế mà Phùng Quán đã làm được. Đó là bản lĩnh và nhân cách của kẻ sĩ Phùng Quán.

Bây giờ tôi xin nói về chất thi sĩ của Phùng Quán.  Đời bầm dập như thế nhưng Phùng Quán luôn ngất ngưỡng với thơ. Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy..Anh luôn khát thơ. Đọc thơ mình trước mọi người đối với Phùng Quán là một  niềm hạnh phúc. Anh về làng Thuỷ Dương quê mình, đêm bà con tập hợp  kín sân đình  để nghe  đứa con thi sĩ của làng xa cách 40 năm trở về đọc thơ. Anh quỳ xuống sân gạch, rưng rưng cụng trán vào đất làng đến rớm máu, lạy bà con, rồi ứng tác đọc  bài thơ “Tạ” : Con tạ/ Manh chiếu rách con nằm/ Con tạ / Bát cơm nghèo mẹ con ăn/ Con tạ/ Câu dân ca mẹ con hát…Hàng  ngàn bà con xã Thuỷ Dương đêm ấy đã khóc. Ai đã từng nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thơ Phùng Quán do chính anh đọc thì cái hay, cái xúc động nhân lên gấp bội. Nhà báo Nguyễn Trung Dân đã kể chuyện Phùng Quán đọc thơ cho cả huyện uỷ  huyện Điện Bàn, Quảng Nam nghe đầu năm 1988: “Trời ạ ! có thể nói như thế nào về cái “không khí thơ” ở cuộc họp Huyện uỷ Điện Bàn năm ấy. Từng con người, đa số là nông dân chân chưa sạch phèn mà sao tiếp nhận những bài thơ do anh Quán đọc một cách tự nhiên, hồn hậu . Và tôi tin tự đáy lòng  mọi người hôm ấy bật ra những giọt nước mắt. Cả huyện uỷ khóc. Hội trường im phăng phắc, chỉ nghe sang sảng tiếng thơ Phùng Quán…”. Một lần ở Đà Nẵng, một trường Cấp 3 mời Phùng Quán đọc thơ. Đến giờ hẹn rồi mà không thấy xe đến đón vì lý do “trục trặc kỹ thuật”. Thế là Phùng Quán đã chạy bộ 10 cây số để kịp buổi đọc thơ. Đúng là không có chất Vệ Quốc Đoàn mãnh liệt, không sống chết vì thơ  anh sẽ không có cuộc chạy maraton như thế. Năm 1988, anh Lê Quang Vịnh (nhân vật trong bài  hát Lê Quang Vịnh người con quang vinh của Nguyễn Văn Tý, sau  này là Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ), lúc đó là bí thư huyện  uỷ Côn Đảo, gửi thư mời tác giả Vượt Côn Đảo ra thăm đảo. Phùng Quán nhận được thư, liền khoác bị cói lên đường ngay. Nhưng rồi  đến Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng-Quảng Nam.v.v… ở đâu anh cũng dừng để “đọc thơ phục vụ nhân dân” nơi một tuần, nơi cả tháng. Say đọc thơ, mãi 6 tháng sau anh mới đến Nha Trang. Đang thơ-rượu với bạn bè thành phố biển thì nhận được tin vợ ốm thế là trở ra Hà Nội. Nghĩa là nhà thơ đi sáu tháng mà chưa tới Côn Đảo. Có một đêm 22 Tết , trong phòng đợi tàu ga Huế, vợ chồng tôi, anh Lê Gia Ninh, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch thức tiễn anh đi Hà Nội tới một giờ sáng. Anh uống rượu, sang sảng đọc thơ cho lữ khách nghe. Mọi người rất xúc động. Thơ anh đọc ở đâu cũng làm cho mọi người  xúc động vì chất bi hùng thống thiết. Đang đọc thơ anh bỗng ngã mũ đi hành khất. Dáng anh đi từng bước y chang người hàng khất ở ga. Hầu như ai cũng bỏ tiền vào mũ anh. Có cả những du khách nước ngoài. Số tiền kiếm được anh chia luôn cho những ngườì ăn xin ở ga ngay khuya hôm đó !

Có người nói thơ Phùng Quán là thơ quảng trường, không cần tìm tòi câu chữ. Tôi cho rằng không phải như vậy. Phùng Quán có những bài thơ thuộc loại hay nhất thế kỷ XX ở Việt Nam như Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tám đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, Hôn, Say Cuối đời, Phùng Quán có tiểu thuyết  thơ “Trăng Hoàng Cung” cũng hay không kém. Thơ trong Trăng Hoàng Cung  tinh diệu, đằm thắm và sâu sắc. Có nhiều bài thơ tình viết như đồng dao, đọc lên thấm đẫm chất quê dân dã, da diết chất Huế : Tôi ngồi đá mọc thành thơ / Ngóng về  cửa Thuận… tôi chờ đó lên/ Một đò lên…/Hai đò lên…/Ba đò lên…/Mà sao tôi chẳng thấy em trong đò (Đợi đò) Có những câu thơ tình thuộc vào loại “ Những câu thơ tài hoa” của Việt Nam: Từ chất liệu gì mà Trăng bày đặt ra em ?…/ Một vùng tóc như một vùng biển tối / Vừng mắt em thăm thẳm tia nhìn / Những ngón tay ngón chân có mùi hoa đại . Cái cổ trần như rong dưới đáy sông Hương (Trăng Hoàng Cung ); .v.v… Có yêu đắm đuối mới viết được những câu thơ đẹp đến nao lòng như thế !

Nhiều người đọc Trăng Hoàng Cung cứ tưởng nhầm đây là những bài thơ tình yêu nam nữ. Không phải! Mạch thơ chủ đạo của Trăng Hoàng Cung là nỗi niền Phùng Quán trước cuộc đờiVới Phùng Quán tình yêu đơn phương đối với người phụ nữ đài các Hà Khánh Linh ấy là có thật , nhưng đó chỉ là cái cớ, cái “từ trường” để anh giải bày tư tưởng của mình về nhân cách người cầm bút, về triết lý sống, thái độ hành xử giữa con người với con người. Mạch thơ Trăng Hoàng Cung là mạch thơ khởi nguồn từ “Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí “ 30 năm trước.  

Trong Trăng Hoàng Cung, viết về mưa Huế, Phùng Quán có những câu thơ rất minh triết: Làm gì có chứng mực thơ/ Làm gì có chứng mực mưa!/ Làm gì có chừng mực yêu! / Làm gì có chứng mực thiên tài! / Làm gì có chứng mực khổ đau! Không có chừng mực nào cả khi con người  tự do sống và viết vì thân phận kiếp người. Trong chương thơ Tôi khóc trong  Trăng Hoàng Cung có đoạn thơ thế sự rất sâu sắc: Vào thời buổi  ngày nay/ Vào Hoàng Cung là chuyện quá dễ dáng/ Cả con bò, con heo cũng đi trên Trung lộ. Đó là hiện thực cuộc đời đau đớn! Những nỗi đau ấy là tiếng thổn thức của lương tri hướng con người tới hoàn thiện.  

Phùng Quán là như vậy. Thượng đế ơi !/ Tôi đã làm gì ? / Mà ly rượu đời Người ban cho tôi / Đắng thế ?… Giá mà sau cái Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ Thuật năm 2007, nhà nước chính thức đưa ra một thông báo hay một lời xin lỗi, để thi sĩ Vệ Quốc Đoàn Phùng Quán và những đồng nghiệp của anh được chính danh  thì  tử tế và trọn vẹn biết bao nhiêu!

(Nguồn: http://nguyentrongtao.org)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 21, 2011 in 8.THƠ CA

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: