RSS

CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT QUA TRANH VẼ

11 May

Cuộc đời Đức Phật qua tranh vẽ

Nhân Đại lễ Phật đản

* * * * * 
image

Nhiều, rất nhiều năm trước tại nước nhỏ ở miền bắc Ấn Ðộ, một biến cố xảy ra đã làm thay đổi toàn thế giới.

Vua Suddhodana (Tịnh Phạn), thân phụ của Đức Phật trị vì một vương quốc nằm ở ven sườn dãy núi cao ngất trời – Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) – nằm phía Đông-Bắc Ấn Độ, thủ phủ là Kapilavastu, nay là Népal.

Thân mẫu của Đức Phật là Hoàng hậu Màyà (Ma Da). Một hôm, trong thành Kapilavastu có lễ hội Tinh Tú, vua tôi cùng nhau cúng bái. Hoàng hậu Màyà sau khi dâng hương hoa trong nội điện và ra khỏi ngọ môn bố thí thức ăn, đồ mặc cho dân chúng, bà trở về cung an giấc, mộng thấy một tượng vương trắng 6 ngà từ trên hư không xuống, lấy ngà khai hông bên hữu mà chui vào. Các bốc sư đều cho rằng Hoàng hậu sẽ hạ sinh một quý tử tài đức song toàn. Nghe điều này, Vua Suddhodana rất vui mừng, vì từ nay ngôi báu đã có người truyền nối.

Đến thời khai hoa nở nhụy, theo tục lệ thời bấy giờ, Hoàng hậu phải trở về quê cha là trưởng giả Anjana ở nước Koly (Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên quãng đường đi, Hoàng hậu Màyà vào vườn Lumbini thưởng ngoạn mùa hoa đang đua nở. Bên tàng cây asoka (vô ưu) che rợp mát, sắc màu tươi sáng, hương thoảng nhẹ bay, Hoàng hậu đã hạ sinh Thái tử. Hoàng hậu Màyà qua đời sau 7 ngày hạ sinh Thái tử

Sự nuôi dưỡng đều được chăm sóc trực tiếp bởi dì Maha Pajàpati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề), em ruột của Hoàng hậu Màyà. Đạo sĩ già tên Asita (A Tư Đà, ẩn tu trên Himalaya – người được kính nể nhất vì đạo hạnh dự báo rằng Thái tử nhất định tương lai sẽ tu chứng Phật quả, và với lòng từ thương xót chúng sanh mà truyền bá chính pháp trên thế gian này. Và ông khóc là vì tuổi đã quá cao, không còn sống được bao lâu nữa để trực tiếp được giáo hóa bởi Đức Thế Tôn tương lai này.

Vua đặt tên con là Siddhattha (Sĩ Đạt Đa-Tất Đạt Đa), họ là Gotama (Cồ Đàm), với hàm ý là kẻ phải giữ chức vụ mà mình phải giữ; còn có nghĩa là người được toại nguyện, mọi việc đều thành tựu. Ý nhà vua là muốn gởi gắm tất cả vương quyền của mình vào đứa con yêu quý này. Thái tử Siddhattha được nuôi nấng và dạy dỗ một cách toàn diện cả hai lãnh vực văn chương và võ thuật. Càng lớn lên, Thái tử càng lộ vẻ trầm tư về cuộc sống

Một ngày mùa xuân, Thái tử ra khỏi lâu đài cùng với vua cha. Hai người xem cảnh một người nông dân cày ruộng thì thấy một con chim xà xuống quắp một con giun bị người nông dây cày đất lộ ra

Ngài ngồi xuống dưới bóng cây và nghĩ về điều đó, tự nhủ: “Có phải tất cả sinh vật đều giết hại lẫn nhau”

Thái tử, người sớm mất mẹ, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bi kịch của những sinh vật bé nhỏ này

Càng yêu thương quý trọng con, Vua Suddhodana lại càng lo sợ Thái tử sẽ không nối nghiệp ngai vàng, mà sẽ xuất gia tìm đạo như lời tiên đoán của đạo sĩ Asita. Bởi thế, vua cùng triều thần sắp đặt nhiều kế hoạch để giữ Thái tử ở lại với ngai vàng. Vua Suddhodana đã cho xây 3 cung điện nguy nga, tráng lệ cho Thái tử thay đổi nơi ở hợp với thời tiết quanh năm của Ấn Độ. Hàng trăm cung phi mỹ nữ giỏi đàn ca hát múa được tuyển chọn để túc trực hầu hạ Thái tử

Muốn ngăn chặn tất cả những hình ảnh của cuộc sống trầm thống khổ đau mà kiếp người phải đeo mang không lọt vào mắt, vào tai Thái tử, để đứa con yêu không có thời gian mà nghĩ đến ngày xích lại với quyết định xuất gia; khi Thái tử vừa tròn 16 (19?) tuổi, Vua Suddhodana vội tiến hành lễ thành hôn cho Thái tử với Công chúa một nước láng giềng – Yosodhara (Da Du Đà Là) – con Vua Suppabuddha (Thiện Giác), một trang quốc sắc thiên hương, với hy vọng hương ấm tình yêu thương đôi lứa sẽ buộc chặt đôi chân của Thái tử ở lại với ngai vàng.

Và trong gần 13 (10?) năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời.

“Sự xa hoa của cung điện, thân mạng, thú vui tuổi trẻ này! Tất cả có ý nghĩa gì đối với ta?” Thái tử nghĩ

“Một ngày nào đó chúng ta bị ốm, trở nên già, chết. Chẳng có lối thoát nào cả”.

Lần lượt ra bốn cửa thành của hoàng cung, Ngài chứng kiến những sự thật đen tối và đáng sợ! Một cụ già chân mỏi, gối dùn; một người bệnh hoạn quằn quại; một thây ma hôi thối và một đạo sĩ ly dục nghiêm trang, tất cả đã làm cho tâm tư Thái tử dao động đến cực độ.

Ngài càng nhận chân rằng tất cả những lạc thú, hạnh phúc mà mình đang thọ hưởng đều mang tính giả tạm vô thường. Cộng với lần tiếp chuyện cùng vị đạo sĩ ung dung, mà thoáng hiện đằng sau con người này một con đường giải thoát, Thái tử Siddhattha quyết định thoát khỏi ngục vàng, tìm ra một lối thoát, một cuộc sống chân thật có ý nghĩa và cao đẹp hơn; một con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người và hướng đến an lạc.

Giữa lúc ấy, một tin đưa đến khiến Ngài không vui: Công chúa Yosodhara vừa hạ sinh một hoàng nam. Thái tử đã thốt lên rằng: “Một trở ngại (ràhu) đã được sinh, một ràng buộc đã xảy ra”. Nhân câu nói này mà Quốc vương Suddhodana đã đặt tên cháu là Ràhula (La Hầu La). Và rồi, với cõi lòng nặng trĩu vì thương chúng sinh chìm đắm trong bể khổ; một đêm, sau khi đến trước phòng nhìn lần chót người vợ và hài nhi yêu dấu đang say nồng trong giấc ngủ…

Ngài cùng nô bộc Channa (Xa Nặc) dắt con tuấn mã Kantaka (Kiền Trắc) vượt thành ra đi.

Khi tới bên kia bờ sông Anoma, Thái tử dưâng lại, cạo bỏ râu tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa; và bảo người nô bộc trung thành ra về tạ lỗi cùng phụ hoàng. Còn lại một mình, Thái tử ra đi với bộ áo màu vàng giản dị của người tu sĩ, sống cuộc sống không nhà của người xuất gia, ly dục ly trần, không nơi cố định.

Thái tử trên đường đi tầm đạo, đã tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du già và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Alara Kalama chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ramaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới, hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du già thời bấy giờ chứng đạt được. Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên, và được hai đạo sư mời ở lại, cùng với họ lãnh đạo chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết bàn, sự chấm dứt sinh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình cầu đạo của mình.

Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. Ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chạy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây, lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Đúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ, rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định.

Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya, Vappa, Mahanama và Asaji. Kondanna vốn là vị đạo sĩ trẻ tuổi nhất, trong số các đạo sĩ được vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sinh. Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa.

Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. Ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ. Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu, vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử, tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử, đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Banares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất. Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa, do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường.

Sau đó, Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề. Đức Phật tự nhủ “Cho dù thịt nát xương tan, ta sẽ không dời bỏ nơi này cho đến khi nào tìm được con đường giác ngộ”

với tâm định tĩnh, chính niệm, tỉnh giác, ly dục, đi vào sơ thiền (thời niên thiếu, trong buổi lễ Hạ điền, Ngài cũng đã một lần vào thiền này), nhị thiền, tam thiền và lần lượt nhập lên tứ thiền, sau đó hướng tâm đến tam minh.

Với trực giác, Ngài thấy rõ nguyên nhân của khổ đau. Chính sự tập khởi của 12 nhân duyên là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn. Ở canh một, Ngài chứng Túc mệnh minh, thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình. Sang canh hai, Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, thấy rõ con đường thọ nghiệp của chúng sanh. Qua canh ba, Ngài như thật quán chiếu thấy khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự đoạn tận của khổ đau, và con đường đưa đến đoạn tận khổ đau, và đã chứng Lậu tận minh. Sau cùng, Ngài chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là vị Phật đầu tiên trong hiện kiếp, lúc ấy sao Mai vừa mọc; và danh hiệu Đức Phật Gotama, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được thế gian tôn xưng từ đấy.

Thế gian tôn xưng Ngài là Đức Phật Gotama hay là Đức Phật Thích Ca Cồ Đàm. Từ Pali, “Buddha” (Phật Đà) có chữ gốc “Buddh” là hiểu biết, giác ngộ chân lý tối hậu, cứu kinh. Sách Pali gọi Ngài là Sammà Sambuddha, với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy; bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình, mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sinh, những người khác gọi ngài là Đức Thế tôn

Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài trời, Đức Phật nghĩ ngay tới 2 vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả 2 ông này đều đã qua đời cách đây không lâu. Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benarès và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Rồi Đức Phật lên đường đi Benarès. Tại đây, ở vườn Nai gần Benarès, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Đức Phật thành đạo.

Trong bài kinh này, Đức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm lính. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng có hại, vô ích. Đức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên, và theo con đường Trung Đạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt và giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo tám nhánh nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chính Đạo.

Đức Phật và các đệ tử của Ngài được vua cha Suddhodana, quần thần và dân chúng đón tiếp rất long trọng. Được nghe Đức Phật thuyết pháp, vua chứng ngay Sơ quả (Tư đà hoàn). Khi nghe bài thuyết pháp thứ hai, nhà vua chứng quả Thánh thứ hai, Sakkadagami (Tư đà hàm), còn bà dì Pajapati Gotami thì chứng Sơ quả (Sotapana – Tu đà hoàn). Lần thứ ba, Đức Phật giảng kinh Dhammapala Jàtaka cho vua cha, và vua cha chứng quả Thánh thứ ba (Anagami – A na hàm).

Mahaprajapati, mẹ kế của Đức Phật, và công chúa Yashodhara, vợ cũ của ngài và các thành viên khác trong dòng họ Thích Ca đã theo bước chân của ngài

Trong 45 năm, Đức Phật đi nhiều nơi để thuyết pháp

Khi ngài 80 tuổi, tại Vaisali và trên đường từ Rajagriha đến Shravasti, ngài bị ốm và biết dược rằng mình sẽ nhập Niết Bài 3 tháng sau đó.

Ngài vẫn tiếp tục hành trình cho đến khi tới Pava, nơi ngài bị ốm nặng

Đức Phật nói với Đại đức Ananda đi báo cho dân chúng Mallas biết là Như Lai sắp nhập Niết bàn vào canh cuối đêm nay tại rừng cây Sala.

Được tin đông đảo dân chúng Mallas, đàn ông, đàn bà, người già, thanh niên, trẻ con tấp nập kéo đến rừng cây Sala bày tỏ lòng tôn kính, thương tiếc và vĩnh biệt Đức Phật lần cuối cùng. Và rồi Đức Phật nhập Niết Bàn sau khi hoàn thành công việc của một vị thầy vĩ đại nhất

(Nguồn: http://phattuvietnam.net)

 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Năm 11, 2011 in Phật Tích

 

One response to “CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT QUA TRANH VẼ

  1. thichdautu

    Tháng Năm 15, 2011 at 3:54 sáng

    Muốn tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời của Đức Phật, quý Anh/Chị nên tìm đọc thêm cuốn “Đường xưa mây trắng” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Có thể nói rằng, cuốn sách này là một tuyệt phẩm.

    Xin đọc bài viết sau đây của Giáo sư Trần Chung Ngọc giới thiệu về cuốn “Đường xưa mây trắng”:

    Tôi đọc “Đường Xưa Mây Trắng”

    Trần Chung Ngọc, Ph.D
    (Giáo Sư Khoa học Vật lý, Đại Học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ)

    Vài Lời Nói Đầu:

    Tin cuốn “Đường Xưa Mây Trắng” của Thầy Nhất Hạnh sắp được quay thành phim là một tin mừng, không những cho người dân Việt Nam mà còn cho cả thế giới. Cuốn phim này chắc chắn sẽ làm cho thế giới hiểu nhiều hơn và rõ hơn về Phật Giáo. Và từ đó, những giá trị hòa bình, nhân bản và nhân chủ của Phật Giáo sẽ soi sáng thêm cho thế giới về một trong những tín ngưỡng và lối sống đạo đức cao đẹp nhất của nhân loại.

    Phật Giáo đang phát triển trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Âu Mỹ, nơi đây Phật Giáo đi vào một cách nhẹ nhàng, hiền hòa, với những bước chân vững trãi và thảnh thơi. Hy vọng cuốn phim sẽ mang lại thêm nhiều lợi ích mọi người trên thế giới, thế giới bớt đi hận thù và chiến tranh, kỳ thị sắc tộc, tôn giáo v.v… Tuy nhiên, cuốn phim có lột được hết những giáo lý sâu sắc của Đức Phật được Thầy Nhất Hạnh trình bày trong cuốn sách hay không lại là chuyện khác. Cách đây mười mấy năm, tôi đã đọc bộ “Đường Xưa Mây Trắng” ba tập khổ nhỏ do nhà xuất bản Lá Bối xuất bản. Bài giới thiệu sau đây về cuốn “Đường Xưa Mây Trắng” là bài tôi đã giới thiệu cùng các bạn trẻ trên diễn đàn điện tử SCV [Soc.Culture.Vietnamese] cách đây đã mười năm, năm 1996. Có nhiều điều tôi muốn thêm nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi lại thấy không cần thiết phải thêm bớt gì vào nội dung bài giới thiệu này.
    TCN

    Cuốn Đường Xưa Mây Trắng Của Thầy Nhất Hạnh:

    Tôi đã đọc cuốn Đường Xưa Mây Trắng (ĐXMT) ba lần. Lần đầu tôi đọc phớt như đọc truyện. Lần thứ 2, tôi đọc chậm hơn và để ý tới cách bố cục, xếp đặt chương mục, mạch lạc trong các tư tưởng, và lần thứ ba, vừa đọc vừa nghiền ngẫm, suy nghĩ về nội dung và cố ý tìm hiểu ý giữa các hàng chữ.

    Từ mấy năm nay tôi đã có ý định viết một bài về cuốn này, nhưng mỗi khi cầm tới bút hoặc ngồi trước màn huỳnh quang của máy điện toán, tôi lại thấy ngần ngại: Tôi có thể viết gì về cuốn sách này? Làm sao tôi có thể trình bày những cảm nghĩ trung thực của tôi? Nhưng sau cùng bài này cũng đã thành hình, có thể do nghiệp viết của tôi đưa đẩy, cũng có thể do một duyên nào đó, nhưng phần chính là vì tôi nghĩ rằng: tôi không nên tham lam giữ làm của riêng những cái hay, cái đẹp của Phật Giáo nói riêng, của nhân loại nói chung, mà có bổn phận chia xẻ, truyền bá chúng cho những người khác.

    Với chủ ý trên, tôi chân thành giới thiệu cùng quí bạn đạo cuốn ĐXMT của thầy Nhất Hạnh, vì về cuốn này, tôi có thể đưa ra không chút dè dặt một nhận xét tổng hợp ngắn: đây là một “tuyệt phẩm” mà mọi Phật tử, Tăng cũng như tục, đều nên đọc, vì cốt tủy của Phật Giáo được gói trọn trong đó, vì những cái hay cái đẹp nhất của Phật Giáo cũng ở trong đó, và nhất là, chính chúng ta cũng có mặt trong đó.

    Cuốn ĐXMT gồm 3 tập, 80 chương, hơn 1000 trang giấy. Với lối hành văn nhẹ nhàng, trong sáng, giản dị nhưng rất sống động và gợi cảm, tác giả đã đưa chúng ta về một bối cảnh lịch sử xa xưa, cách đây hơn 2500 năm, khi Bụt (Thầy Nhất Hạnh ưa dùng danh từ Bụt, nghĩa là người tỉnh thức (Buddha), thay vì dùng danh từ quen thuộc là Phật) còn tại thế, và dẫn chúng ta đi theo vết chân Bụt, từ ngày Đản sanh tới khi nhập Niết Bàn. Nhưng đây không phải là một cuốn tiểu sử Đức Phật như những cuốn tiểu sử khác, kể lại cuộc đời đức Phật theo thứ tự thời gian một cách tẻ nhạt, tuần tự nhi tiến. Tác giả đã dùng một cách bố cục đặc biệt, trình bày trước những việc xảy ra sau, rồi dùng kỹ thuật hồi chớp (flashback) để xen vào những việc xảy ra trước mà vẫn không mất tính chất liên tục và mạch lạc tư tưởng. Cách xếp đặt này có thể nói là làm cho độc giả không nhàm chán, mà trái lại, lại cảm thấy hấp dẫn, say mê và phải chú tâm nhiều hơn. Nhưng điểm đặc biệt hơn cả là tác giả đã dùng tiểu sử đức Phật để trình bày trọn vẹn giáo lý căn bản của Người, hay nói đúng hơn, phần giáo lý mà tác giả đã thuyết giảng truyền bá trong nhiều năm.

    Trình bày giáo lý của đức Phật thì đã có rất nhiều người, xuất gia cũng như tại gia, làm rồi. Nhưng trình bày Phật Pháp, ngay cả những vấn đề khúc mắc nhất trong đó, một cách trong sáng giản dị, dễ hiểu, thoải mái, tự nhiên như trong ĐXMT thì phải nói là, theo như tôi biết, chưa có ai, kể cả những học giả, đạo sư, cư sĩ nổi tiếng như Thomas Cleary, Edward Conze, Christmas Humphreys, Alan Watts, Louis de la Valée Poussin, Theodore Stcherbatsky, D.T.Suzuki, Lu K’uan Yu, Philip Kapleau, v.v… làm được như thầy Nhất Hạnh. Điều này cũng dễ hiểu, vì cách diễn đạt tư tưởng của một người đã hội nhập những Kinh điển Phật Giáo hiển nhiên phải khác những người hiểu Phật Giáo qua những khảo cứu thuần trí thức, hoặc qua vài ba kinh nghiệm bản thân. Phải là một người đã thể nhập giáo pháp cộng với một bộ óc phong phú của một nghệ sĩ mới có thể suy diễn nghệ thuật chăn trâu (chương 2) cùng hình ảnh một khúc gỗ đang vật vờ trôi trên sông (chương 63) thành những tiêu chuẩn tu học cho người xuất gia; và đây chính là điểm làm tôi ngưỡng mộ và cảm phục tác giả dù cho tới ngày nay, tuy mong muốn, tôi vẫn chưa có cơ duyên gặp Người để học hỏi.

    Đọc ĐXMT không những chúng ta biết được tường tận cuộc đời đức Phật, những giáo lý căn bản của Người, mà còn biết được tình trạng xã hội Ấn Độ khi Phật còn tại thế. Nếp sống của đức Phật và các đệ tử xuất gia cũng như tại gia của Người hồi bấy giờ đã được mô tả thật là đẹp, quá đẹp, làm người đọc không khỏi bâng khuâng nuối tiếc khi nhìn vào hiện tình Phật Giáo nói chung, Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Phải chăng không có gì thoát khỏi định luật vô thường? Nhưng nếu chính định luật vô thường cũng vô thường thì hiển nhiên chúng ta phải hi vọng và tin tưởng vào sự hưng khởi của Phật Giáo. Có thể sau một chu kỳ biến đổi, Phật Giáo sẽ lại trở về với giá trị tinh thần như thời Phật còn tại thế, tuy bề ngoài vật chất có nhiều thay đổi.

    Có thể nói mỗi chương trong ĐXMT là một bài thuyết Pháp dưới dạng một câu chuyện nhỏ, một ký ức, một cảnh sinh hoạt, v.v… Những bài thuyết Pháp này trình bày khá đầy đủ những giáo lý căn bản Phật giáo, và dư đủ những chủ đề tu tập cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Chúng ta sẽ thấy trong ĐXMT có đầy đủ những giáo lý căn bản quen thuộc như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Vô Lượng Tâm, Bát Chánh Đạo, Vô Ngã, Vô Thường, Tính Không của Vạn Pháp, Nguyên Lý Tương Duyên, Tương Tức, v.v… cùng các phương pháp tu tập khác không kém phần quan trọng. Nếu chúng ta đã từng quen thuộc với những tác phẩm của Thầy Nhất Hạnh thì chúng ta có thể thấy trong ĐXMT Thầy Nhất Hạnh đã gói ghém, xếp đặt khéo léo phần lớn Kinh sách đã xuất bản của Thầy, và đặt trọng tâm trên 2 chủ đề: Chánh Niệm và Tỉnh Thức, vì theo tác giả thì “Chánh Niệm là con đường duy nhất để thực hiện giải thoát và giác ngộ” và bí quyết của Chánh Niệm là “sống tỉnh thức từng giây từng phút” (Chương 18, trang 188-189).

    Từ bao giờ tôi vẫn cho rằng sách viết về đức Phật và Phật Pháp không phải để đọc chơi cho biết, vì cái biết để mà biết này, quả thực vô dụng nếu chúng ta không cố tâm học hỏi, tu tập để mang cái biết ra chứng nghiệm vào chính bản thân. Tùy theo khả năng mỗi người, chỉ cần có tâm học hỏi, chúng ta có thể học được rất nhiều khi đọc ĐXMT. Văn tự thế gian quả là hạn hẹp, thiếu sót. Tôi chỉ có vài lời ngắn ngủi để giới thiệu cùng bạn đọc một cuốn sách mà tôi cho rằng mọi Phật tử đều nên đọc, phải đọc. Đọc để mở mang kiến thức về Phật giáo cùng để hội nhập một lý tưởng cao đẹp nhất của nhân loại. Tôi không có cách nào dùng văn tự để truyền những cảm nghĩ của tôi cho người khác. Tôi cũng không trích dẫn những đoạn hay, có rất nhiều đoạn hay, trong ĐXMT vì tôi muốn để quí bạn tự mình đi vào thế giới của một tuyệt phẩm. Tuy nhiên, theo tôi thì có thể bạn sẽ thấy ĐXMT hay hơn nếu bạn đã ít nhiều quen thuộc với những tác phẩm đã xuất bản của Thầy Nhất Hạnh. Một số tác phẩm của Thầy đã được dịch ra tiếng Anh, nên đối với những bạn trẻ có đôi chút khó khăn khi đọc tiếng Việt hoặc cảm thấy tiếng Anh “sáng sủa” hơn, tôi đề nghị hãy đọc những cuốn sau đây trước khi đọc ĐXMT:
     Trái Tim Mặt Trời. – The Sun My Heart
     Từng Bước Nở Hoa Sen, Thi Kệ Nhật Dụng. Present Moment Wonderful Moment.
     Kinh Quán Niệm Hơi Thở. – Breath! You are Alive.
     Kinh Người Biết Sống Một Mình (Bản Làng Cây Phong xuất bản) – Our Appointment With Life.
     Thiền Hành Yếu Chỉ. – Walking Meditation.

    Các bản tiếng Anh trên, cùng nhiều cuốn khác, và bản dịch cuốn ĐXMT – Old Path White Clouds – đều có bán ở các tiệm sách lớn như Borders và Barnes & Noble.

     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: