RSS

Chuyện tự kể của cô Bích Hằng tại hội nghị của TTNC TNCN ngày 8/8/2004

26 Mar

Dưới đây là bài nói chuyện của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng tại Câu lạc bộ tiềm năng con người ngày 28/08/2004 , được ghi lại từ VCD:

Thật ra đến dự buổi nói chuyện hôm nay, tôi cũng không biết bắt đầu từ đâu, bởi vì quá trình làm việc của tôi đã 14 năm, rất nhiều lần trong các hội nghị, tôi đã phát biểu và nói chuyện về những việc tôi đã làm. Năm 1989, sau một tai nạn hy hữu, tôi đã vượt qua được cõi chết trở về và tự nhiên có những khả năng đặc biệt. Sau quá trình tìm hiểu gần 1 năm, đến năm 1990, tôi phát hiện ra khả năng của mình không phải là ảo giác, mà là sự thật qua nhiều cuộc kiểm nghiệm của bản thân cùng những người thân trong gia đình.

Đó là một khả năng khoa học chưa lý giải dược, gọi dễ hiểu là giác quan thứ 6. Kể từ tháng 4 năng 1990, sau sự kiện tìm lại được ngôi mộ ông tổ 4 đời của tôi, cả đại gia đình cũng như xóm làng họ tộc mới khẳng định cô bé này không bị di chứng sau bệnh dại, không phải thần kinh hoang tưởng, mà là một con người hoàn toàn bình thường. Cái không bình thường tôi nhìn thấy, nghe thấy là khả năng tiềm ẩn của con người. Nói nôm na như dân gian thì như thế là được trời cho lộc. Những ngày đầu tôi cũng gặp nhiều cay đắng, lộc đâu chẳng thấy.

Cho đến bây giờ, để được đứng trước câu lạc bộ có các cô các chú, các anh, các chị, được sự mến mộ của nhiều người, đem lại niềm vui cho một số gia đình, tôi phải trải qua một quá trình không dễ dàng tự phấn đấu khẳng định bản thân, vượt qua mặc cảm với cộng đồng xã hội, đấu tranh với nội tộc người thân. Bố mẹ tôi có những cảm giác khó tả khi sinh ra người con không phát triển theo quy luật tự nhiên, trải qua những tháng ngày rất căng thẳng, đau khổ, không ít những đêm thức trắng vì con mình lớn lên chuẩn bị đến trước cổng trường đại học lại bị một tai nạn như vậy, rồi lại âm âm dương dương không hiểu thế nào.

Hôm nay, tôi cũng chỉ muốn đề cập đến hiện tượng tôi đã thấy và làm trong mười mấy năm qua, tôi không dám tham vọng buổi nói chuyện này có thể giải thích hiện tượng đó là gì. Cơ chế của hiện tượng, bản chất ra sao là một câu hỏi lớn với tất cả chúng ta, không những Bộ môn Cận tâm lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, mà còn rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Tôi từng được rất nhiều tổ chức nước ngoài mời phỏng vấn để hy vọng tìm ra cơ chế hiện tượng nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chỉ là sự ghi chép tổng hợp chứ chưa có lời giải thích nào hợp lý.

Năm 1990, tôi bị chó dại cắn trong 1 tai nạn xảy ra với 2 người. Tôi là người đầu tiên. Người thứ 2 là cô bạn cùng tuổi học cùng lớp, vì cố tình đánh đuổi con chó, che chở cho tôi. Tôi bị cắn vào chân trái, còn bạn bị cắn vào bàn tay trái. Ở tuổi 17, hai đứa thấy hoàn toàn bình thường, quên ngay việc bị chó cắn, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi chỉ mong bạn được đi học đại học vì tôi đã được gọi vào trường rồi. Sau thời gian khoảng gần một tháng, bạn tôi có triệu chứng lên cơn sốt, co giật và nhiều triệu chứng khác. Chúng tôi sinh ra ở một vùng nông thôn tỉnh Ninh Bình, điều kiện đến bệnh viện bấy giờ không phải khó khăn, nhưng cha mẹ mải làm việc, thêm nữa nghĩ chúng nó đang tuổi mới lớn, chuyện sứt sẹo chân tay là chuyện thường không ai để ý đến. Ngày cuối cùng tôi gặp lại bạn, bạn tôi không nói được nữa, hàm răng cứng lại thì lại nghĩ là đau răng, đi nha khoa kiểm tra nhưng hoàn toàn không phải. Về đến nhà, có một bác sĩ ở bệnh viện quân y 5 Ninh Bình nói tất cả biểu hiện của cô bé này cho thấy là người bị bệnh dại. Đứng cạnh bác sĩ, nghe thấy như vậy, hơn ai hết, chỉ tôi biết bạn bị chó cắn, và cảm thấy tử thần bắt đầu nắm tay mình. Tôi chỉ nói với bác sĩ được một câu “Đúng như vậy”. Bác sĩ hỏi tại sao, tôi trả lời “Vì cháu cũng bị chó cắn. Hai đứa bị cùng một lúc”. Khi tôi ngất đi rồi tỉnh lại, bạn tôi đã qua đời. Lúc ấy, mọi người mới biết, tay tôi chỉ buộc rất đơn giản chiếc khăn mùi xoa, vết thương vẫn chưa khỏi, bị nhiễm trùng vì làm những việc khác.

Gia đình đưa đi chữa nhiều nơi nhưng họ đều lắc đầu bệnh này không thể chữa khỏi từ xưa đến nay. Đến nhà một ông thầy lang theo Thiên Chúa Giáo, ông nói câu đầu tiên “Chúa lòng lành sẽ che chở cho con”. Ông nói với người con trai ra nghĩa đĩa lấy ngay một mảnh ván thô của người bốc mộ ngày hôm qua, thêm một vài vị thuốc bào chế cho tôi. Để giành giật giữa cái sống với cái chết, cái gì tôi cũng uống, cái gì tôi cũng ăn, hy vọng lấy 1 phần nghìn sự sống. Uống thuốc rồi, ông dặn sau ba tiếng đồng hồ, cháu sẽ cảm thấy nóng khắp người, lên cơn sốt mê man, lên cơn sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé, xong thì hết cơn, theo dõi nếu 3 ngày sau cháu hết cơn thì ông bà yên tâm con mình sống, còn nó lên cơn trở lại thì cháu không sống được nữa, tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôi chỉ đến thế. 7 giờ tối tôi uống thuốc, 9 giờ tối tôi lên cơn đúng như lời ông thầy lang, khoảng 11h đêm tôi thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, ông anh cô bạn từ bên Đức nghe tin em mất về, tôi cùng gia đình ra mộ bạn thắp hương vì từ hôm bạn mất, tôi không được ra mộ. Tạm biệt bạn từ ngôi mộ quay trở lại, cách ngôi mộ độ 30 met, tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi nói: “Đưa nhanh em về, em bị điên rồi”, từ đấy không biết gì nữa.

Đến lúc 1h đêm, gia đình không còn tia hy vọng, tôi hoàn toàn tắt thở. Ở quê, những người trẻ được khâm niệm rất nhanh, không bao giờ tổ chức lễ tang kèn chống, bởi ông nội còn, bố mẹ còn. Có một ông cụ, là ông thầy dạy chữ nho ở làng, rất giỏi tử vi, sau một hồi tính toán, ông bảo: thứ nhất, chưa qua giờ Thìn, không được khâm niệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương. Bác sĩ nói tốt nhất đậy mặt lại, để gia đình đi chuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói như vậy để người ta nuôi một hy vọng bệnh hoạn. Ông cụ nói: Các anh thì cả một nền ý học hiện đại, tôi thì chỉ tàn hương nước thánh, nhưng tôi khẳng định nó không thể chết. Cả gia đình tôi rất hoang mang. Năm đó thị trường chưa như bây giờ, việc mua đồ rất khó khăn. Mọi người ai đi mua gỗ cứ đi, ai ngồi chờ cứ chờ. 1 giờ đêm, tôi chính thức tắt thở.

Bố tôi công tác ở xa. Trong những ngày tôi khắc khoải chờ chết sau sự ra đi của bạn, tôi hỏi bố tôi năm 1988 tổng bí thư Lê Duẩn mất, họ bắn 7 loạt đại bác để làm gì, bố tôi trả lời để linh hồn mau siêu thoát. Tôi nói, khi con mất, con không vinh dự được bắn đại bác, bố bắn cho con bảy phát đạn, con cũng mau siêu thoát để trở về với bố mẹ. 7 giờ sáng, bố tôi về. Bố tôi khóc, có bao nhiêu đạn trong bao ông bắn hết. Tôi nghe tiếng nổ tỉnh dậy, phản xạ đầu tiên là lao ra phía đó, gọi “Bố ơi!”. Tôi đạp phải những các tút bật lại và ngã xuống sân. Mọi người đưa vào trong phóng. Sau khoảng nửa tiếng, tôi tỉnh lại hoàn toàn, cảm giác không trọng lượng, như đang bay, nhìn mọi người như ở một thế giới khác. Trong 30 phút bất tỉnh vì ngã đập đầu xuống sân, tôi thấy bà nội và bà ngoại, cả hai người đã mất, gọi tôi. Tôi đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, bà ngoại bên kia vẫy tay, bà nội thì đứng bên bờ bên này kéo lại. Bên kia còn có rất nhiều người đang đón mà không biết là ai. Tôi tuột khỏi tay bà, hốt hoảng vì sợ ngã nên gọi “Bà ơi!”, đó cũng là câu mọi người nghe tôi nói đúng lúc tỉnh dậy.

Tâm trạng trong gia đình vẫn nghĩ sự tỉnh lại chỉ là tạm thời. Tất cả mọi người sẵn sàng chuẩn bị tinh thần đón chờ cái chết sẽ đến với tôi. Bản thân tôi cảm thấy hoàn toàn bình thường, mọi sinh hoạt đều trở lại bình thường như cũ, không có gì thay đổi.

——————————————————————————–

Khi nhìn mặt những người xung quanh mình, tự nhiên tôi cảm giác cuộc sống của họ còn được bao nhiêu. Vài tháng, tôi đi lăng nhăng, thấy ai sắp chết là tôi nói cho họ biết, không ít lần bị ăn đòn, ăn chửi. Trong làng có ông Vũ Văn Trác nhà ở gần trường học, mới hơn 50 tuổi, khỏe mạnh, quý tôi, đi đâu về nhìn thấy cũng bảo “Chào cô giáo ạ!”, cái gì có cũng cho tôi. Tôi là con nhà giáo, ngày nhỏ học rất giỏi. Một hôm, tôi nhìn ông bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp chết rồi. Thôi ông đừng đi làm nữa cho khổ! Ông về đi!”. Ông sững sờ:” Cô giáo nói tôi cái gì đấy?”. “Cháu bảo là ông sắp mất rồi, đừng đi làm nữa!”. Sẵn cái roi đánh trâu đi cày về, ông quay lại:” À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá, chứ là đại tướng thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận, láo toét!”. Tất cả mọi người ở làng hai bên đường chứng kiến ông này rất quý con bé này sao hôm nay lại đuổi đánh nó dữ dằn thế. Tôi vừa chạy vừa quay lại bảo: ”Không, ông chết thật mà.” Đến nhà, ông nội tôi chắp tay: ”Tôi lạy ông! Cháu nó bị dở dở ương ương, nhà tôi đã khổ lắm rồi. Thôi, ông đừng làm cháu khổ thêm nữa, ông đừng đánh nó, ông biết nó hâm rồi mà.” Ông kia quyết không tha: “Tại sao nó rủa tôi sắp chết? Tôi không tha cho con này, tôi phải đánh cho nó một trận.” Ông đánh được mấy cái, tôi đau, tức, khóc những vẫn bảo: “Cháu bảo ông chết thật rồi ông không tin cháu à? Thử mấy ngày nữa thì sẽ biết, chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi…”. Cuộc sống cứ như thế trôi qua, đến ngày truyền thanh 3 cấp của xã đọc tin cáo phó cụ Vũ Văn Trác chết hồi 2 giờ chiều ngày 15/7, cả làng ngã ngửa ra. Thời gian tôi nói và thời gian ông mất quá gần.

Tiếp đến là chú Bùi Văn Chai (Trai?), chủ nhiệm hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa nơi tôi sống, bạn rất thân của mẹ tôi. Đó là năm 1989. Tôi bảo chú, giữa hội trường ủy ban nhân dân xã, rất nhiều người chứng kiên, đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao lại hết đi, nếu không đến lúc đấy chết lại không kịp. Chú nói: “Anh chị phải về dạy bảo con. Cứ để nó luyên thuyên như thế là không được.” Đầu tháng giêng, chú bị đau bụng, đi khám bệnh và được phát hiện bị hoại tử đường ruột. 24 tháng giêng chú mất. Người ta bảo tôi bị ma ám, nói ai là người ấy chết, tốt nhất là tránh đi.

Bố mẹ tôi, ông tôi, tất cả người thân trong gia đình đều đau khổ. Mẹ tôi là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh học sinh trước đây rất tin tưởng phấn khởi cho con học lớp mẹ tôi, giờ lại tự động chuyển con sang lớp khác. Tôi ra sức thuyết phục gia đình, tôi hoàn toàn bình thường, những cái đó là tôi nhìn thấy thật, nhưng không ai tin, kể cả bố mẹ. Sau đó, tôi được đưa đi hết bệnh viện này bệnh viện khác, khám thần kinh rồi đủ thứ, đưa đi ông thầy nọ bà thầy kia cúng bái, chuyển mộ.

Tôi phán đoán được tình trạng sức khỏe người ta như thế nào, rồi phán đoán được suy nghĩ của người ta. Tôi ước gì một ngày nào đấy ngủ một giấc dậy quên khả năng ấy đi. Nhiều người suy nghĩ rất tốt, nhưng những suy nghĩ xấu xa lại nhiều hơn.

Tôi ao ước nhìn thấy bà nội và bà ngoại, những người tôi yêu quý. Bà nội tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, hình dáng tôi vẫn nhớ. Đúng ngày giỗ bà nội mồng 6 tháng 10, tôi thấy bà nội về, mang theo 2 đứa trẻ, một đứa đang bế, một đứa dắt tay. Ông nội tôi bảo đó là 2 đứa con của ông, đã mất lúc 8 tháng và 3 tuổi, thế này thì không thể không tin lời tôi. Có lẽ trời cho ăn lộc hay thế nào đây?

Làng tôi có ngôi chùa bà Huyền Trân Công Chúa đã tu. Ở Chiêm Thành về, bà không lấy chồng nữa mà về tu ở đấy. Gia tộc họ Trần, ông Trần Thái Tông và một số công thần nhà Trần cũng về đấy. Cả một bãi rộng mênh mông mà bây giờ là sân vận động bóng đá từng gọi là Mả Nhà Trần. Tôn thất nhà Trần chết đi đều chôn ở khu vực này. Nhà ông chú ruột tôi ai cũng bị bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu, hoàn toàn về bên phải. Tôi bảo chú, ngày xưa tôi chơi ú tim trẻ con buổi tối rất hay nhìn thấy bóng người trong vườn nhà chú. Hai chú cháu ra đào bới, thấy một lớp ngói, như ngói lợp của một cái lăng lâu năm đã mục, gạt ra thấy một lớp đất đỏ, gạt lớp đất đỏ thấy một cỗ quan tài đồ sộ. Người ta nghiên cứu lớp vỏ bên ngoài là vỏ hến, vôi, mật trộn lẫn với nhau, không phải bê tông nhưng vô cùng rắn. Bên trong có một quan tài chạm trổ óng ánh rất đẹp, bật nắp ra thấy hình một người đàn ông nằm dọc, nước vàng khánh. Tôi là người đầu tiên nhảy xuống thò tay sờ thấy tan hết ra toàn xương người với những đồng tiền, một vài vật dụng linh tinh. Ủy ban xã vào lập biên bản, cán bộ văn hóa đến làm việc. Ở cơ quan cấp huyện, cấp xã, họ cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Ngôi mộ được xác định là của một ông tướng đời Trần, có thể cách đó khoảng 700 năm. Tôi rất tiếc, nếu ngày ấy nhận thức của tôi sâu hơn, rộng hơn một chút, báo cho cơ quan văn hóa tỉnh, khảo cổ ngôi mộ sẽ thu lại rất nhiều di vật. Rốt cục, những con chó đá, những vật nhỏ xíu trong quan tài, mỗi người đến xem lấy một thứ. Những đồng tiền bị bốc đi, mài, bẻ vì tưởng là vàng, nhưng nó là hợp chất gì đó, chẳng phải đồng, chẳng phải vàng, hình tròn, đục lỗ xuyên vào nhau.

Sau sự kiện trên, đến nhà nào tôi cũng hỏi có mất mộ không, hễ mất tôi xin tìm giúp. Dân làng cũng thử nhờ tôi xem sao. Sau vài lần tìm thấy, người ta gọi tôi là “cô”, thấy tôi đi qua bèn chắp tay “Lạy cô ạ”, “Xin cô”.

Chính bản thân gia đình tôi cũng mất mộ cụ tứ đời, bao nhiêu lần bố tôi đưa cả đại đội bộ đội về đào mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ 12 tháng tư, tôi thử đi tìm. Trớ trêu, ngôi mộ nằm trên đường đi, tôi rủ thêm người anh trai ra đào. Mấy chú bảo vệ ở xã nhìn thấy bảo: Con ông bộ đội đi ra phá đường. “Không, cháu nhìn thấy có mộ ở đây”. “À, thế thì đem xẻng cuốc ra đây thử đào xem con dở hơi này nó nói có đúng không?”. Sâu gần 2 met, tôi với tay lên mới tới mặt đất thì thấy một tấm bên trên khảm chữ không đọc được. Hai anh em đem rửa, cả họ đang ăn cỗ. Ông nội tôi hơn 80 tuổi được gọi, chạy ra đến nơi, đọc một bên là “Ẩm thủy quy nguyên”, một bên là “Vinh quy bái tổ”. “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”, ông lăn ra khóc.

Hồi đó, rất đông người đến nhờ tôi nhưng bị bố tôi đuổi. Bố tôi thậm chí xin nghỉ công tác ở nhà canh con gái, sợ nó làm việc gì không phải với bà con làng xóm. Từ đây tôi bớt bị sự kìm kẹp của bố tôi.

Đấy cũng chỉ là một phần rất nhỏ những ngày đầu tiên tôi có khả năng. Tâm trạng gia đình, bản thân tôi, của thầy cô bạn bè khó tả lắm, cho đến vài năm sau còn chưa hết ngỡ ngàng. Khi tôi tìm thấy cụ tứ đời, tìm cho bà con trong làng, mọi người xác nhận đây là khả năng có thật, không phải luyên thuyên, không phải hoang tưởng di chứng bị chó dại cắn.

Trước đấy, mọi người còn bảo tôi học chuyên, học nhiều nên bị ngộ chữ. Tôi xin bố mạnh dạn cho tôi đi thi, xem con có học được không, nếu con quên hết kiến thức văn hóa, bảo con thần kinh thì con chịu, nếu không bố phải cho con học, không được giữ con ở nhà. Bố tôi đồng ý. Là dân khối xã hội, nhưng cố tình chứng minh cho bố, tôi quay ngoắt sang thi khối A, Đại học kinh tế quốc dân. Tôi chỉ có 15 ngày, từ lúc thuyết phục được bố cho đến khi tôi thi. Quá quyết tâm, tôi đỗ với kết quả không ngờ, gần 24 điểm.

Trong thời gian đi học, tôi cũng có làm cho rất nhiều người, ví dụ các thầy các cô ở các trường đại học biết. Bố tôi ra điều kiện, ai đến nhờ, để lại cho ông chứng minh thư hoặc sổ hộ khẩu, đưa tôi đi, phải có một người đi theo, làm việc xong đưa tôi về nhà báo cáo kết quả xong ông trả lại. Sau khi xin nghỉ hưu, bố tôi được bầu làm bí thư đảng ủy xã, chủ tịch hội cựu chiến binh. Nhà tôi đông khách kinh khủng, xã bực mình, đem bố tôi ra kiểm điểm, kỷ luật, định khai trừ khỏi đảng. Trong một năm ở nhà, tôi cũng làm trưởng ban tổ chức thiếu niên nhi đồng, phó bí thư xã đoàn, sau đó lên bí thư xã đoàn. Tôi học đối tượng đảng, thi rất xuất sắc được 10 điểm, nhưng không ai cho kết nạp đảng vì mê tín dị đoan. Khi đưa bố tôi ra kỷ luật, tôi xin gặp ủy ban kiểm tra đảng, những người làm quyết định kỷ luật, nói: Tôi đã 18 tuổi, đủ tư cách pháp nhân và năng lực hành vi để chịu mọi trách nhiệm về hành động của mình. Không có lý do nào việc tôi làm bố tôi phải chịu. Mà tôi là quần chúng trong đoàn thể thôi, không phải đảng viên. Nếu tôi là đảng viên, bố tôi là bí thư chi bộ thì rõ rang kỷ luật bố tôi. Thế là người ta yêu cầu tôi làm gì đó để chứng minh tôi có khả năng thực sự đem lại lợi ích cho quê hương làng xã.

Hồi đó, tôi đang cộng tác với Viện Khoa học thể dục thể thao, do bác Nguyễn Văn Cừ làm viện trưởng. Bác Cừ, một số anh trong ban quản lý di tích lịch sử, nhất là anh Nguyễn Văn Chiến, trợ lý của bác Cừ,cầm máy ghi âm theo tôi nhiều lần để nghiên cứu. Anh Chiến rất giỏi tử vi, một chân hơi tập tễnh vì bị tật từ nhỏ. Ở Bộ văn hóa có chú Phí Đình Thiệm, cô Hoàng Thị Vân và nhiều người ủng hộ nhiệt liệt, về động viên bố mẹ tôi. Bố tôi bảo, nếu các bác các chú tin cháu nó có khả năng thì cứ việc nghiên cứu nhưng phải lưu lại trên báo cáo giấy tờ để sau này có cái trình bày với các cơ quan đoàn thể.

Tôi đi cộng tác trong thời gian khá dài, khoảng 6 tháng. Tôi xin các bác các chú cho người giúp tôi về khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê tôi từ đời nhà Trần, 700 năm nay. Tôi về khám phá, kiểm nghiệm thông tin, nói chuyện, tiếp xúc với những nhân vật đã xây dựng chùa, tất nhiên là chết cách đây 700 năm rồi, trong đó có cả bà Phan Thị Vinh, nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, họ nhiều đời của nhà tôi. Chùa bị giặc Pháp đốt, phá tan tành, những bát hương đá bị vùi xuống đất. Người xưa cho tôi biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong chứng chỉ từ các đời vua. Những gì tôi thu thập được xác nhận hoàn toàn đúng bởi ban văn hóa. Huyện trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Kết quả để bố tôi không bị kỷ luật đảng chính là những thông tin tôi mò mẫm lấy được từ cõi âm.

——————————————————————————–

Khi nhìn mặt những người xung quanh mình, tự nhiên tôi cảm giác cuộc sống của họ còn được bao nhiêu. Vài tháng, tôi đi lăng nhăng, thấy ai sắp chết là tôi nói cho họ biết, không ít lần bị ăn đòn, ăn chửi. Trong làng có ông Vũ Văn Trác nhà ở gần trường học, mới hơn 50 tuổi, khỏe mạnh, quý tôi, đi đâu về nhìn thấy cũng bảo “Chào cô giáo ạ!”, cái gì có cũng cho tôi. Tôi là con nhà giáo, ngày nhỏ học rất giỏi. Một hôm, tôi nhìn ông bảo: “Ông ơi, chắc là ông sắp chết rồi. Thôi ông đừng đi làm nữa cho khổ! Ông về đi!”. Ông sững sờ:” Cô giáo nói tôi cái gì đấy?”. “Cháu bảo là ông sắp mất rồi, đừng đi làm nữa!”. Sẵn cái roi đánh trâu đi cày về, ông quay lại:” À, tưởng là con cô giáo mà tao không dám đánh à? Bố mày có là đại tá, chứ là đại tướng thì hôm nay tao cũng phải cho mày một trận, láo toét!”. Tất cả mọi người ở làng hai bên đường chứng kiến ông này rất quý con bé này sao hôm nay lại đuổi đánh nó dữ dằn thế. Tôi vừa chạy vừa quay lại bảo: ”Không, ông chết thật mà.” Đến nhà, ông nội tôi chắp tay: ”Tôi lạy ông! Cháu nó bị dở dở ương ương, nhà tôi đã khổ lắm rồi. Thôi, ông đừng làm cháu khổ thêm nữa, ông đừng đánh nó, ông biết nó hâm rồi mà.” Ông kia quyết không tha: “Tại sao nó rủa tôi sắp chết? Tôi không tha cho con này, tôi phải đánh cho nó một trận.” Ông đánh được mấy cái, tôi đau, tức, khóc những vẫn bảo: “Cháu bảo ông chết thật rồi ông không tin cháu à? Thử mấy ngày nữa thì sẽ biết, chỉ từ nay đến 15 tháng 7 thôi…”. Cuộc sống cứ như thế trôi qua, đến ngày truyền thanh 3 cấp của xã đọc tin cáo phó cụ Vũ Văn Trác chết hồi 2 giờ chiều ngày 15/7, cả làng ngã ngửa ra. Thời gian tôi nói và thời gian ông mất quá gần.

Tiếp đến là chú Bùi Văn Trai, chủ nhiệm hợp tác xã thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa nơi tôi sống, bạn rất thân của mẹ tôi. Đó là năm 1989. Tôi bảo chú, giữa hội trường ủy ban nhân dân xã, rất nhiều người chứng kiên, đến tháng giêng là chú chết đấy, có bao nhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao lại hết đi, nếu không đến lúc đấy chết lại không kịp. Chú nói: “Anh chị phải về dạy bảo con. Cứ để nó luyên thuyên như thế là không được.” Đầu tháng giêng, chú bị đau bụng, đi khám bệnh và được phát hiện bị hoại tử đường ruột. 24 tháng giêng chú mất. Người ta bảo tôi bị ma ám, nói ai là người ấy chết, tốt nhất là tránh đi.

Bố mẹ tôi, ông tôi, tất cả người thân trong gia đình đều đau khổ. Mẹ tôi là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh học sinh trước đây rất tin tưởng phấn khởi cho con học lớp mẹ tôi, giờ lại tự động chuyển con sang lớp khác. Tôi ra sức thuyết phục gia đình, tôi hoàn toàn bình thường, những cái đó là tôi nhìn thấy thật, nhưng không ai tin, kể cả bố mẹ. Sau đó, tôi được đưa đi hết bệnh viện này bệnh viện khác, khám thần kinh rồi đủ thứ, đưa đi ông thầy nọ bà thầy kia cúng bái, chuyển mộ.

Tôi phán đoán được tình trạng sức khỏe người ta như thế nào, rồi phán đoán được suy nghĩ của người ta. Tôi ước gì một ngày nào đấy ngủ một giấc dậy quên khả năng ấy đi. Nhiều người suy nghĩ rất tốt, nhưng những suy nghĩ xấu xa lại nhiều hơn.

Tôi ao ước nhìn thấy bà nội và bà ngoại, những người tôi yêu quý. Bà nội tôi mất lúc tôi mới 10 tuổi, hình dáng tôi vẫn nhớ. Đúng ngày giỗ bà nội mồng 6 tháng 10, tôi thấy bà nội về, mang theo 2 đứa trẻ, một đứa đang bế, một đứa dắt tay. Ông nội tôi bảo đó là 2 đứa con của ông, đã mất lúc 8 tháng và 3 tuổi, thế này thì không thể không tin lời tôi. Có lẽ trời cho ăn lộc hay thế nào đây?

Làng tôi có ngôi chùa bà Huyền Trân Công Chúa đã tu. Ở Chiêm Thành về, bà không lấy chồng nữa mà về tu ở đấy. Gia tộc họ Trần, ông Trần Thái Tông và một số công thần nhà Trần cũng về đấy. Cả một bãi rộng mênh mông mà bây giờ là sân vận động bóng đá từng gọi là Mả Nhà Trần. Tôn thất nhà Trần chết đi đều chôn ở khu vực này. Nhà ông chú ruột tôi ai cũng bị bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo một bên đầu, hoàn toàn về bên phải. Tôi bảo chú, ngày xưa tôi chơi ú tim trẻ con buổi tối rất hay nhìn thấy bóng người trong vườn nhà chú. Hai chú cháu ra đào bới, thấy một lớp ngói, như ngói lợp của một cái lăng lâu năm đã mục, gạt ra thấy một lớp đất đỏ, gạt lớp đất đỏ thấy một cỗ quan tài đồ sộ. Người ta nghiên cứu lớp vỏ bên ngoài là vỏ hến, vôi, mật trộn lẫn với nhau, không phải bê tông nhưng vô cùng rắn. Bên trong có một quan tài chạm trổ óng ánh rất đẹp, bật nắp ra thấy hình một người đàn ông nằm dọc, nước vàng khánh. Tôi là người đầu tiên nhảy xuống thò tay sờ thấy tan hết ra toàn xương người với những đồng tiền, một vài vật dụng linh tinh. Ủy ban xã vào lập biên bản, cán bộ văn hóa đến làm việc. Ở cơ quan cấp huyện, cấp xã, họ cũng chỉ dừng lại ở mức độ đó. Ngôi mộ được xác định là của một ông tướng đời Trần, có thể cách đó khoảng 700 năm. Tôi rất tiếc, nếu ngày ấy nhận thức của tôi sâu hơn, rộng hơn một chút, báo cho cơ quan văn hóa tỉnh, khảo cổ ngôi mộ sẽ thu lại rất nhiều di vật. Rốt cục, những con chó đá, những vật nhỏ xíu trong quan tài, mỗi người đến xem lấy một thứ. Những đồng tiền bị bốc đi, mài, bẻ vì tưởng là vàng, nhưng nó là hợp chất gì đó, chẳng phải đồng, chẳng phải vàng, hình tròn, đục lỗ xuyên vào nhau.

Sau sự kiện trên, đến nhà nào tôi cũng hỏi có mất mộ không, hễ mất tôi xin tìm giúp. Dân làng cũng thử nhờ tôi xem sao. Sau vài lần tìm thấy, người ta gọi tôi là “cô”, thấy tôi đi qua bèn chắp tay “Lạy cô ạ”, “Xin cô”.

Chính bản thân gia đình tôi cũng mất mộ cụ tứ đời, bao nhiêu lần bố tôi đưa cả đại đội bộ đội về đào mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ 12 tháng tư, tôi thử đi tìm. Trớ trêu, ngôi mộ nằm trên đường đi, tôi rủ thêm người anh trai ra đào. Mấy chú bảo vệ ở xã nhìn thấy bảo: Con ông bộ đội đi ra phá đường. “Không, cháu nhìn thấy có mộ ở đây”. “À, thế thì đem xẻng cuốc ra đây thử đào xem con dở hơi này nó nói có đúng không?”. Sâu gần 2 met, tôi với tay lên mới tới mặt đất thì thấy một tấm bên trên khảm chữ không đọc được. Hai anh em đem rửa, cả họ đang ăn cỗ. Ông nội tôi hơn 80 tuổi được gọi, chạy ra đến nơi, đọc một bên là “Ẩm thủy quy nguyên”, một bên là “Vinh quy bái tổ”. “Đúng mộ ông nội tôi đây rồi”, ông lăn ra khóc.

Hồi đó, rất đông người đến nhờ tôi nhưng bị bố tôi đuổi. Bố tôi thậm chí xin nghỉ công tác ở nhà canh con gái, sợ nó làm việc gì không phải với bà con làng xóm. Từ đây tôi bớt bị sự kìm kẹp của bố tôi.

Đấy cũng chỉ là một phần rất nhỏ những ngày đầu tiên tôi có khả năng. Tâm trạng gia đình, bản thân tôi, của thầy cô bạn bè khó tả lắm, cho đến vài năm sau còn chưa hết ngỡ ngàng. Khi tôi tìm thấy cụ tứ đời, tìm cho bà con trong làng, mọi người xác nhận đây là khả năng có thật, không phải luyên thuyên, không phải hoang tưởng di chứng bị chó dại cắn.

Trước đấy, mọi người còn bảo tôi học chuyên, học nhiều nên bị ngộ chữ. Tôi xin bố mạnh dạn cho tôi đi thi, xem con có học được không, nếu con quên hết kiến thức văn hóa, bảo con thần kinh thì con chịu, nếu không bố phải cho con học, không được giữ con ở nhà. Bố tôi đồng ý. Là dân khối xã hội, nhưng cố tình chứng minh cho bố, tôi quay ngoắt sang thi khối A, Đại học kinh tế quốc dân. Tôi chỉ có 15 ngày, từ lúc thuyết phục được bố cho đến khi tôi thi. Quá quyết tâm, tôi đỗ với kết quả không ngờ, gần 24 điểm.

Trong thời gian đi học, tôi cũng có làm cho rất nhiều người, ví dụ các thầy các cô ở các trường đại học biết. Bố tôi ra điều kiện, ai đến nhờ, để lại cho ông chứng minh thư hoặc sổ hộ khẩu, đưa tôi đi, phải có một người đi theo, làm việc xong đưa tôi về nhà báo cáo kết quả xong ông trả lại. Sau khi xin nghỉ hưu, bố tôi được bầu làm bí thư đảng ủy xã, chủ tịch hội cựu chiến binh. Nhà tôi đông khách kinh khủng, xã bực mình, đem bố tôi ra kiểm điểm, kỷ luật, định khai trừ khỏi đảng. Trong một năm ở nhà, tôi cũng làm trưởng ban tổ chức thiếu niên nhi đồng, phó bí thư xã đoàn, sau đó lên bí thư xã đoàn. Tôi học đối tượng đảng, thi rất xuất sắc được 10 điểm, nhưng không ai cho kết nạp đảng vì mê tín dị đoan. Khi đưa bố tôi ra kỷ luật, tôi xin gặp ủy ban kiểm tra đảng, những người làm quyết định kỷ luật, nói: Tôi đã 18 tuổi, đủ tư cách pháp nhân và năng lực hành vi để chịu mọi trách nhiệm về hành động của mình. Không có lý do nào việc tôi làm bố tôi phải chịu. Mà tôi là quần chúng trong đoàn thể thôi, không phải đảng viên. Nếu tôi là đảng viên, bố tôi là bí thư chi bộ thì rõ rang kỷ luật bố tôi. Thế là người ta yêu cầu tôi làm gì đó để chứng minh tôi có khả năng thực sự đem lại lợi ích cho quê hương làng xã.

Hồi đó, tôi đang cộng tác với Viện Khoa học thể dục thể thao, do bác Nguyễn Văn Cừ làm viện trưởng. Bác Cừ, một số anh trong ban quản lý di tích lịch sử, nhất là anh Nguyễn Văn Chiến, trợ lý của bác Cừ,cầm máy ghi âm theo tôi nhiều lần để nghiên cứu. Anh Chiến rất giỏi tử vi, một chân hơi tập tễnh vì bị tật từ nhỏ. Ở Bộ văn hóa có chú Phí Đình Thiệm, cô Hoàng Thị Vân và nhiều người ủng hộ nhiệt liệt, về động viên bố mẹ tôi. Bố tôi bảo, nếu các bác các chú tin cháu nó có khả năng thì cứ việc nghiên cứu nhưng phải lưu lại trên báo cáo giấy tờ để sau này có cái trình bày với các cơ quan đoàn thể.

Tôi đi cộng tác trong thời gian khá dài, khoảng 6 tháng. Tôi xin các bác các chú cho người giúp tôi về khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê tôi từ đời nhà Trần, 700 năm nay. Tôi về khám phá, kiểm nghiệm thông tin, nói chuyện, tiếp xúc với những nhân vật đã xây dựng chùa, tất nhiên là chết cách đây 700 năm rồi, trong đó có cả bà Phan Thị Vinh, nhũ mẫu của Huyền Trân Công Chúa, họ nhiều đời của nhà tôi. Chùa bị giặc Pháp đốt, phá tan tành, những bát hương đá bị vùi xuống đất. Người xưa cho tôi biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phong chứng chỉ từ các đời vua. Những gì tôi thu thập được xác nhận hoàn toàn đúng bởi ban văn hóa. Huyện trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Kết quả để bố tôi không bị kỷ luật đảng chính là những thông tin tôi mò mẫm lấy được từ cõi âm.

Những ngày ấy tôi làm việc hết sức khó khăn. Để nói chuyện được cũng không đơn giản. Lúc đầu tôi không biết nói chuyện, chỉ nhìn thấy người, hình dáng họ như thế nào, họ già, họ trẻ, họ đen, họ trắng, họ béo, họ gầy. Có trường hợp nhìn giống nhau dẫn đến sự nhầm lẫn. Tôi có tìm cho một gia đình bác ấy là liệt sĩ chống Pháp, chết ở trận Chùa Cao – Ninh Bình. Tôi tìm thấy bác ở một bờ ruộng gần bốt Chùa Cao. Ừ đây mặt vuông chữ điền này, râu quai nón này, giống anh con trai duy nhất của bác, đúng ngôi mộ này rồi. Gia đình đắp đất lên, để đấy chuẩn bị về chôn vào nghĩa trang. Tôi rất phấn khởi vì thành tích của mình đạt được, đến tối ngủ tự nhiên thấy có một bác bộ đội giật giật chân dậy và ở đó có 2 người. “Này này, dậy! Cậu dậy đây tớ bảo cái này. Hôm nay cậu làm thế là cậu làm không được nhé. Cậu nhầm. Cậu chỉ mộ cậu liên lạc của tớ. May mà vợ con tớ chưa đem về đấy. Nếu mà đem về có phải tớ vẫn còn nằm lại mà cậu liên lạc lại được cả nhà tớ kêu bằng bố.” Tôi bảo: “Cháu không hiểu” Bác ấy nói:” Đây này nhìn đây này, cậu liên lạc nó mới chỉ 23 tuổi, còn bác đã ba mấy tuổi rồi. Bác có cái mụn ruồi ở mũi, cháu nhìn thấy chưa, rất là to. Ngày xưa bố vợ suýt không đồng ý vì báo cái mụn ruồi đấy là chết yểu, chết non, con gái ông ý sẽ góa chồng sớm. Dù mụn ruồi nhưng tớ vẫn đẹp giai nên tớ vẫn lấy được. Đây này, bây giờ nhìn nhé. Ở cái chỗ đất đây này, bác ném cành hoa vạn thọ ở chỗ này nhé. Mai cháu nhớ phải lên sớm không trẻ con nó nghịch nó làm mất.” Hôm sau, sáng dậy sớm, một mình tôi đi xe xuống chỗ mô đất nhà người ta đắp, vẫn còn thấy chân hương, hoa cắm, đồ cúng thì trẻ con lấy hết rồi. Tôi nhìn ra cách đấy khoảng 5 mét. Mặc dù là mùa đông nhưng tôi vã mồ hôi. Trên nền cỏ ướt đâm sương muối, một cành cúc vạn thọ nằm ngay thẳng. Đầu hoa thì vào đầu ống ấy còn cuống hoa thì vào chân. Tôi về báo tin cho gia đình ngay. Thật ra lúc ấy rất khó nói. Tôi phải mạnh dạn xin lỗi gia đình là tôi nhầm. “Như thế là thế nào? Lấy gì làm bằng chứng? Hôm qua đã cả hình cả dáng đúng như thế rồi…” “Cháu nhìn thấy ông ấy có cái mụn ruồi trước cửa mũi này này, cái mụn ruồi cảm giác nó che lấp cả lỗ mũi ấy.” Bà cụ òa lên khóc: “Đúng chồng tôi rồi”. Gia đình họ lại chuẩn bị xe pháo đi cùng tôi xuống vị trí để nhận. Chỉ có từng này đất đã đến hài cốt của bác dưới ruộng hàng ngày vẫn chồng cấy lúa mà người ta không biết. Sau đó, bác được gia đình đưa về quê, còn cậu liên lạc được đưa vào nằm trong nghĩa trang Chùa Cao. Phải 5 năm sau, khoảng 1995, khi tôi bắt đầu khả năng nói chuyện, tôi quay trở lại đúng địa điểm đó, hỏi chú tên là gì, quê quán ở đâu để tôi về báo cho gia đình chú. Chú trả lời:” Lúc ấy chú nói nhiều lắm mà cháu không nghe thấy. Chú tên là Đỗ Viết Định, ở làng Vũ Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Bây giờ nhà chú chẳng có ai đâu, vì nhà chuyển đi ra ở thị xã Ninh Bình rồi. ” Làng Vũ Lâm có hành cung Vũ Lâm của nhà Trần. Tôi lần mò về, người ta bảo ông này liệt sĩ từ lâu rồi, giờ hỏi ông ấy làm gì. Người ta chỉ tôi ra thị xã Ninh Bình tìm người thân xuống nhận. Lúc ấy chỉ có bố mẹ chú thôi, chú chưa có vợ có con, anh em thì mỗi người đi làm ăn một nơi.

Trường hợp đầu tiên để tôi phát hiện ra khả năng nghe nói là trường hợp của mẹ giáo sư Mai Hữu Khuê, trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Khi tôi đi tìm, thấy có một bà cụ, nghe như có tiếng nói, cái miệng lắp bắp mà không hiểu nói gì. Chỗ đấy là một vũng nước rất bẩn. “Cụ ơi cụ, cụ nói cái gì đấy”. Tôi nghe thấy cụ gọi “Cháu ơi!”, tim tôi muốn vỡ ra. Tôi sướng quá, tôi nghe được rồi. “Bà tên là Kình, nhắn hộ cho bà, mộ bà ở đây mà các con bà về tìm mãi không thấy”. Con bà là Khuê. Tôi quay ra nói với dân làng. Dân làng bảo con bà ấy làm to lắm. Đúng rồi, bà Kình mẹ ông Khuê. Nhà bác Tạ Thị Thược ở làng Thành Mỹ, Hoa Lư, Ninh Bình nói biết ông Khuê mà hình như còn là họ hàng gọi là cậu, nhắn tin cho gia đình về nhận ngôi mộ của bà cụ.

Từ đấy chuyển sang một giai đoạn dở hơi tiếp. Tôi đi hỏi hết các ngôi mộ xem họ nói gì. Về hỏi người nhà mình thì chuyện gì mình cũng biết rồi, cứ ba đời bốn đời nhà người ta lôi ra kể, nói chuyện. Nhưng tôi vẫn chưa tin khả năng nghe của mình. Mãi đến đợt tôi giúp gia đình đại tá Tạ Doãn Địch ở 24A Tăng Bạt Hổ tìm được mười mấy ngôi mộ. Sau khi giúp xong cũng nói chuyện với các cụ nhưng rất ít, bởi tôi chỉ nói mình tôi hay chứ không dám cho mọi người biết rằng mình biết nói. Đêm hôm ấy, một cô bé chạy về, ôm mặt khóc: “Tại sao lại không tìm tôi, tìm hết mọi người thiếu mỗi mình tôi?”. “Cô là ai?”. Cô dắt tay ra chỉ vào đống đá :”Đây này, cháu lên cháu sẽ nhìn thấy đống đá hộc (?). Cô tên là Đóa”. “Cô người nhà ai?”. Cô bảo: “Người nhà mà hôm qua cháu vừa đi tìm mộ xong”. Hôm qua tôi chỉ tìm đúng cho nhà bác Tạ Doãn Địch. Tôi viết thư lên, nhà bác nói đấy chính là bà cô chết lúc hơn mười tuổi. Gia đình về khai quật, vứt hết đá ra, dưới lớp đất lấy được hài cốt của một cô bé hơn mười tuổi, bây giờ xấy mộ lại rồi. Tôi phát hiện thêm một điều, khi mình làm nhầm cho người ta, lập tức người ta phản hồi lại ngay. Tôi rất mừng, có sự phản hồi mới biết mình đúng hay không, nếu không thì cứ u u mê mê thế thôi. Chí ít đến lúc đấy có 2 trường hợp người ta phản hồi lại là sai. Một người là nhầm lẫn, một người là thiếu sót. Ở cõi âm là như thế, người ta rất rõ ràng, ranh giới giữa sự thật và không thật không bị mập mờ. Tôi cảm thấy họ rất trọng tình nghĩa, chỉ có một chút quan hệ dây mơ rễ má, họ sẵn sàng nhắn nhủ cho nhau. Ví dụ, cháu gặp người này cháu nói chuyện, tìm mộ xong rồi ông lại bảo: “Này, cho bác nhắn này, nhà bác còn một bà…” họ như này như này mất mộ nằm ở chỗ này chỗ này. Nói đùa, như thế đâm ra tôi bị vạ lây, đáng lẽ chỉ phải tìm mỗi một người, tự nhiên phải tìm bao nhiêu người. Những ngày đầu tiên tôi chưa có kinh nghiệm, người ta nói đến lúc nào tôi phải nói đến lúc đấy, người ta nhắn gì tôi cũng phải nghe, nhất là đi ra nghĩa trang liệt sĩ thì cứ ngồi mấy tiếng đồng hồ không bao giờ ghi hết nổi. Đến giờ, tôi biết cách ngắt vì sức khỏe mình đến mức độ nào thôi. Không nói được nữa thì cháu xin lỗi cụ, hôm khác cháu sẽ gặp lại. Những năm tháng đầu tiên ấy, tôi tìm được rất nhiều liệt sĩ nhắn nhủ như vậy, có khi họ là đồng đội. Ví dụ, “Chú có thằng bạn chết trong Bình Dương”, về gặp chú bảo mộ nó đang nằm ở chỗ đấy, lô cao su số mấy, ai là người phụ trách lô cao su ấy, hàng ngày đi cạo mụ cao su. Tôi báo cho gia đình về tìm được. Đó là trường hợp tìm cho liệt sĩ Nguyễn Văn Nhợi ở Vĩnh Phúc. Tôi được cho biết, đi lên lô cao su ấy, của nông trường ấy, có một chị đang cạo mủ cao su, có đặc điểm là bao giờ cũng đi cùng con, mẹ đi trước con theo sau. Gia đình họ vào tìm, bảo cả nông trường có cô này không có chồng nhưng có một đứa con, đi đấu cũng dắt theo lẽo đẽo. Bác bảo ở lô cao su ấy, cái bát cạo mủ gần gốc cây bác nằm bị mẻ…

Năm ngoái, bộ môn chúng tôi nghiên cứu đề tài TK06, có nghĩa là “Tìm ngược”, người chết tìm người sống. Bình thường thì người sống chúng ta đi tìm lại ông bà cha mẹ, anh em ruột thịt bị mất. Vừa rồi, đề tài TK06 làm ngược lại. Chúng tôi đã tìm, bước đầu có kết quả khả quan đáng vui mừng. Người âm nhắn đi đến địa chỉ này, địa chỉ kia, tìm cho tôi cháu này, con này, cuối cùng đều tìm được tất cả, thậm chí thân nhân của những người chết đói, chết bom ở Hợp Thiện, nhất là tìm liệt sĩ thì khá nhiều, về các vùng quê tìm mộ cho các gia đình cụ nọ nhắn cho cụ kia cũng tương đối nhiều.

(Sưu tầm)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 26, 2011 in Tâm Linh

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: