RSS

Đối thoại về bài viết: “Tôi không theo Pascal”

22 Mar

Trao đổi với ông Nguyễn Hoài Vân

(Trần Tiên Long)

Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Hoài Vân (NHV) đã bỏ thì giờ để đọc bài Tôi không theo Pascal và đặc biệt đã chia sẻ những ý kiến trong tinh thần thân thiện liên quan đến những gì tôi viết. Đối với tôi, trao đổi với tất cả mọi người luôn luôn là một niềm vui và vinh hạnh.

Phần nhiều, những góp ý của ông NHV là để đưa ra những quan điểm trái nghịch nhưng không cho đọc giả chúng tôi biết ông theo quan điểm nào, và tại sao. Tôi tin chắc là ông cũng không theo những quan điểm mà ông đã đưa ra vì rõ ràng chúng đã lỗi thời và đã từng bị nhiều triết gia vạch ra những sai lầm. Chẳng hạn quan điểm của St. Augustino, một thánh cả đã đặt nền tảng cho Thiên chúa giáo, về nhiều vấn đề thần học như tội tổ tông, tín điều Đức mẹ vô nhiểm nguyên tội, Chúa cứu thế, Thiên chúa ba ngôi; và về những vấn đề xã hội như vị thế của người đàn bà trong gia đình và xã hội, quan điểm về nô lệ, về tình dục v.v… Tiểu sử cuộc đời của St. Augustino cho chúng ta biết ông là một người sa đọa và có nhiều ám ảnh về tình dục, và nhiều quan điểm của ông được người thời nay xem như là hoang tưởng, hay tệ hại hơn, là trái nghịch với luân lý và đạo đức.

Vấn đề Thượng đế là một vấn đề nhạy cảm và hiếm khi có sự đồng thuận. Khi chúng ta bàn về vấn đề này thì trước tiên chúng ta phải xác định từ Thượng đế định bàn nằm trong ý nghĩa nào. Bài Tôi không theo Pascal đã được viết về một Thượng đế có nhân tính (personal God) của Thiên chúa giáo còn được gọi là Thiên chúa.

Ông NHV bàn về rất nhiều vấn đề trong một bài viết, vậy ở đây tôi chỉ xin trả lời một cách vắn tắt, cố gắng đề cập đến nhiều vấn đề ông đã nêu ra nên không thể đi sâu vào chi tiết.

Ý niệm về Thượng đế

Tôi đã có dịp vào trang nhà của ông và rất khâm phục những tư tưởng tiến bộ và tự do của ông khi bàn về Thượng đế. Những gì ông bàn về cầu nguyện như là “nhắc tuồng” một Thượng đế toàn năng toàn trí, hay thực ra là “ta chỉ thờ ta”, thì thật là chính xác, khó có thể phủ bác. Nhưng rõ ràng ông vẫn cố ý vớt vát trong vô vọng về sự hiện hữu của một Thượng đế, cho dù Thượng đế theo cách ông hiểu hoàn toàn không phải là Thượng đế có nhân tính của Thiên chúa giáo.

Sir Edward Tylor hình thành định nghĩa của vạn vật hữu linh (thuyết vật linh).

Quan điểm của ông về ý thức (consciousness) nằm trong mọi sự vật có nguồn gốc từ thuyết Duy linh (Animatism: the attribution of consciousness and personality to natural phenomena such as thunderstorms and earthquakes and to objects such as plants and stones) hoặc thuyết Vật linh (Animism: the doctrine that all natural objects and the universe itself have souls; animism is common among primitive peoples), những học thuyết của người sơ khai từ thời Thượng cổ khi con người chưa biết khoa học. Khi suy diễn cho tới một ý thức cuối cùng mà ông gọi là Ý Thức Thuần Túy, ông đã xem đó như là Thượng đế. Đây chính là Thượng đế của các nhà khoa học như là nguyên nhân đầu tiên mà tôi đã trình bày trong bàiTôi không theo Pascal.

Quan điểm của tôi thì hoàn toàn trái nghịch, vì tôi không tin có một ý thức nằm trong sự vật. Ý thức là của con người gán cho sự vật chứ chẳng có ý thức nào nằm trong sự vật, cho dù là tiềm thức hay vô thức. Nếu con người không có khối óc vật chất thì sẽ không có ý thức. Những hiện tượng thiên nhiên như sóng thần, động đất, mưa bão, v.v… ngày nay không còn được tin như là do chủ ý hay ý thức của một siêu sinh vật nào nữa.

Hơn nữa, khi ông suy diễn tới một ý thức cuối cùng thì rõ ràng ông đang áp dụng lập luận thiết kế thông minh (intelligent design argument), bởi vì ý thức cuối cùng đó, hay điều mà ông gọi là Ý Thức Thuần Túy, lại nằm ngoài sự vật từ vô thủy vô chung, trước khi vũ trụ và muôn loài được sáng tạo. Như vậy, câu hỏi “ai đã tạo ra Thượng đế hay Ý Thức Thuần Túy” vẫn chưa có câu trả lời. Tại sao vũ trụ cần phải có nguyên nhân đầu tiên mà Ý Thức Thuần Túy không cần phải có nguyên nhân đầu tiên? Tại sao Ý Thức Thuần Túy có thể tự sinh mà vũ trụ không thể tự sinh? Vậy đây chính là bình mới nhưng vẫn chứa rượu cũ. Chỉ cần đổi ý thức thành phạm trù nhân quả (causation) và Ý Thức Thuần Túy thành nguyên nhân đầu tiên (first cause) thì chúng ta sẽ trở về với lập luận thiết kế thông minh, một phó sản của thuyết sáng tạo.

Đức tin và Hồng ân,

Thiên chúa giáo dạy rằng đức tin là tặng phẩm hay hồng ân của Thiên chúa ban riêng cho mỗi người. Đó là lý do tại sao khi chúng ta được rửa tội, linh mục chủ tế hỏi chúng ta xin điều gì từ Thiên chúa. Người đỡ đầu (god father) của chúng ta trả lời rằng, xin nhân đức tin.

Quan điểm của tôi thì cho rằng, đức tin là do giáo dục, chẳng phải là một tặng phẩm cho không. Người ta có thể giáo dục một người tin theo điều mình muốn rất dễ dàng nếu cứ tiếp tục nhồi sọ họ ngay từ khi mới sinh ra. Nếu tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo và được giáo dục theo Công giáo thì tôi sẽ có đức tin Công giáo. Hoặc nếu tôi sinh ra trong một gia đình Phật giáo và được giáo dục theo Phật giáo thì tôi sẽ là một Phật tử. Một điều, cho dù có vô lý đến cỡ nào, nếu cứ được khéo léo tuyên truyền không ngừng thì sẽ có vô số người tin theo.

Nếu hiểu đức tin do hồng ân thì sẽ đưa đến rất nhiều vấn nạn không có giải đáp. Tặng phẩm hay hồng ân là một quyền lợi, không phải là một bổn phận, nên ai ai cũng có quyền từ chối. Vậy tại sao Thiên chúa giáo dạy rằng những người tin Thiên chúa thì sẽ được hưởng phần thưởng thiên đàng, còn những người không tin thì sẽ bị đày xuống địa ngục đời đời kiếp kiếp? Có bao giờ cha mẹ tặng một cái gì cho con cái và dí súng dọa rằng nếu mày không nhận thì tao sẽ giết mày? Chẳng lẽ Thiên chúa nhân từ vô cùng mà chúng ta tôn thờ lại có trái tim độc ác hơn con người? Đó rõ rệt là thủ đoạn đe dọa làm cho con người sợ hãi và chính nó là nguồn gốc của đức tin.

Hơn nữa, nếu đã là tặng phẩm hay hồng ân ban riêng thì sự thưởng phạt không còn có ý nghĩa gì nữa, bởi vì sự thưởng phạt đã không được đặt trên căn bản công trạng.

Khoa học và đức tin

Đức tin là tin vào điều vô lý và không có khoa học nào dạy chúng ta tin vào những điều vô lý. Nếu không phải là điều vô lý thì chẳng cần đến đức tin. Điều nguy hiểm nằm ở chỗ là bất kỳ tôn giáo nào cũng có thể nại cớ đức tin để bắt tín đồ tin theo bất cứ điều vô lý nào. Những cố gắng của những nhà tôn giáo hữu thần biện minh cho đức tin tôn giáo của họ đều có thể áp dụng để biện minh cho bất kể đức tin của bất kỳ tôn giáo nào. Điều chúng ta đang tin có gì chân thật hơn điều những người khủng bố ôm bom nổ đang tin?

Bởi vậy, tôi cũng có thể bảo đảm được rằng, nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện nơi con kỳ lân mầu tím vô hình (pink invisible unicorn) bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên chúa, thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ con kỳ lân giống như những điều chúng ta nhận được từ Thiên chúa. Điều đó cho chúng ta biết rằng Thiên chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như con kỳ lân, không hơn không kém. Những lập luận cố gắng chứng minh cho sự hiện hữu của Thiên chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của con kỳ lân. Mặc dù vậy, trên đời chẳng có ai tin con kỳ lân nhưng lại có vô số người tin Thiên chúa. Vậy đó chính là kết quả của giáo dục và tuyên truyền.

Các phép lạ, điều trái nghịch với các định luật của thiên nhiên, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong bản chất không thể đi đôi với khoa học. Những cố gắng giải thích đức tin cho có vẻ khoa học thực ra chẳng có chút gì là khoa học.

Vấn đề hạnh phúc

Vấn đề này tôi đã minh xác ở phần kết luận trong bài Tôi không theo Pascal. Điều rõ ràng không thể chối cãi là hiện nay đang có những người vô thần sống rất hạnh phúc và đóng góp rất nhiều cho phúc lợi xã hội; và ngược lại, cũng không thiếu những người hữu thần lại có một cuộc sống không hạnh phúc và làm hại cho xã hội. Hạnh phúc là một vấn đề cá nhân, tại tâm, và người vô thần hay hữu thần đều có cái tâm của một con người.

Người tốt thì làm những điều tốt, còn người xấu thì làm những điều xấu. Chỉ có tôn giáo hữu thần mới biến người tốt làm điều xấu mà họ cứ tưởng là tốt lành vì nhân danh đức tin và tôn giáo của họ. Chứng minh? Xin cứ nhìn những tên khủng bố ôm bom nổ, các cuộc thánh chiến, tòa án xử dị giáo, thiêu đốt phù thủy v.v… Tất cả đều phát xuất từ đức tin của những người tốt lành theo Thiên chúa giáo hữu thần.

Đức tin và vấn đề thiện ác

Ông NHV lập luận rằng “Khi anh thích làm một chuyện được coi là “xấu”, thì vì lý do gì anh phải chọn hy sinh sự khoái lạc của mình để làm điều tốt, thay vì làm điều xấu, nếu không có một sự thưởng phạt mà anh không thể tránh được, sẽ đuổi theo anh ngay cả sau khi chết ? Nếu cuộc sống thực sự chấm dứt khi từ trần, ai cũng như ai, thì việc gì tôi phải hy sinh cho bất cứ lý do gì?”

Xin trả lời: Đó là vấn nạn của những người hữu thần, không phải của những người vô thần. Người vô thần chẳng cần tin có sự thưởng phạt sau khi chết mà họ cũng vẫn làm những điều tốt lành cho xã hội. Hãy xem những việc làm từ thiện của Bill Gates, chủ nhân của Microsoft Corp, một nhà vô thần đã đóng góp tài chánh nhiều nhất cho những công việc bác ái, từ thiện. Xin xem danh sách những nhà vô thần nổi tiếng ở cái link sau:

http://celebatheists.com/wiki/Main_Page

Vậy chúng ta nên có sự phân biệt giữa tôn giáo và đạo. Không phải ai ai cũng có một tôn giáo để theo; nhưng tất cả mọi người đều có một đạo, ít nhất là đạo làm người. Nếu đã xác định hạnh phúc của chúng ta liên hệ mật thiết với hạnh phúc của những người xung quanh thì hành động làm việc thiện của các nhà vô thần thật dễ hiểu. Hạnh phúc đời này thì ai ai cũng cảm nhận rành rành trước mắt, còn hạnh phúc đời sau thì chỉ là chiếc bánh vẽ. Làm điều thiện vì bất cứ lý do gì cũng đều đáng khuyến khích.

Vai trò của hiện hữu phản vật chất

Ông NHV gọi “anti-matter” là phi vật chất. Theo tôi, đúng hơn, nên gọi đó là phản vật chất vì nó đi đôi với vật chất như hình với bóng. Tĩnh từ “phi” làm cho người ta hiểu lầm như là một thứ gì không có thật. Người ta đã thử nghiệm chứng minh được sự hiện hữu của anti-electron và anti-proton. Điều quan trọng ở đây là phản vật chất cũng vẫn hoàn toàn tuân theo các định luật của thiên nhiên, chẳng hạn như nguyên lý bảo tồn khối lượng, năng lượng, momentum, định luật E=mc2 của Einstein, chứ không có một siêu sinh vật nào can thiệp vào tiến trình phản ứng của nó. Câu nói của Einstein rằng “nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo một cách thức khác” cho tới ngày nay vẫn luôn luôn đúng.

Những thứ mà ông NHV đề cập, chẳng hạn như âm thanh, ngôn ngữ, ý thức, suy tưởng, cảm nhận, trí nhớ… tất cả đều là những thuộc tính (properties) của vật chất, hay sản phẩm của con người vật chất, không phải là những thực thể (entities) độc lập, riêng biệt. Những thứ đó chẳng chứng minh được rằng có một siêu sinh vật đứng phía sau để điều khiển theo ý muốn của siêu sinh vật đó mà chúng ta gọi là Thiên chúa. Tất cả đều vận hành, tuân theo những định luật máy móc, tự nhiên, mà nhà Phật gọi là duyên khởi. Chúng đều là kết quả của vật chất trong thiên nhiên khi vận hành, chứ không hề độc lập với vật chất.

Nếu ý thức độc lập với vật chất thì nó phải có ý chí tự do. Cho đến bây giờ, chưa có một bộ môn khoa học nào xác định được rằng có những hiện tượng không tuân theo những những định luật của thiên nhiên. Mọi sự xảy ra trong trời đất đều có nguyên nhân tự nhiên, chẳng phải do ý muốn tự do của một sinh vật thiêng liêng nào.

————–


From: thaoluan9@yahoogroups.com [mailto:thaoluan9@yahoogroups.com] On Behalf Of Nguyen Hoai Van

Sent: Saturday, January 08, 2011 3:24 PM

To: nhiều địa chỉ và thư nhóm…

Subject: [Thaoluan9] Re: TÔI KHÔNG THEO PASCAL

……Xin cảm ơn anh Hoàng Thúc Long đã gửi cho bài viết giá trị này. Xin có vài đóng góp với tác giả Trần Tiên Long và quý anh chị quan tâm đến vấn đề :

Đức Tin và Luận Lý học – Quan điểm “Hồng Ân”

Về Đức Tin, người Ky Tô giáo cũng biết là nó vô lý, nên trên nguyên tắc thường không tìm cách lý luận để chứng minh nó. Augustin nói : “tôi tin (Chúa) vì điều ấy vô lý” (Je crois parce que c’est absurde) hay :”Hãy tin rồi sẽ hiểu, đức tin đến trước, trí tuệ theo sau”. Một câu khá bí hiểm của Jean de la Croix cũng đáng được lưu ý : “Với sự tăm tối của nó, Đức Tin làm sáng lạn sự tăm tối của tâm hồn” ! (Nuits obscures) (1)

Một cách bình thường, chúng ta không « tin » vào sự hiện hữu của màn hình máy vi tính trước mặt mình. Chúng ta chỉ có thể « tin » vào một điều đáng làm cho chúng ta nghi ngờ, kiểu như «  hiện có một người mặc áo trắng thắt cà vạt đỏ đang ngồi ăn phở trong một căn nhà màu xanh trên … sao Hỏa ! » … Vì thế nhà Phật nhấn mạnh đến Đại Nghi Tình (Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ) trước Đại Tín Tâm (xem : http://nguyenhoaivan.com/ default.asp?do=news_detail&id=132&kind=1 – chép dán link vào navigator).

Tuy nhiên, làm sao để tin được một điều vô lý ? Làm sao một sự tăm tối có thể soi sáng một sự tăm tối, như lời Jean de La Croix ? Nói cách khác, làm sao thắng được một sự hoài nghi “hợp lý” ? (2) Để giải quyết vấn nạn này, thần học đề ra khái niệm “hồng ân“. Theo Augustin, hồng ân được ban cho một số (ít) người (massa praedestinati), khiến họ có Đức Tin. Những người này sẽ được cứu rỗi. Quý vị khác (massa perditionis), được mời tham quan Hỏa Ngục cho đến … vĩnh cửu !

Đức Tin có tính toán của Pascal không phải là một quan điểm được Thần Học công nhận. Bản thân Pascal cũng không giữ quan điểm ấy lâu năm. Ông viết, ngày 23 tháng 11, 1654 : “Lửa ! Thiên Chúa của Abraham, của Jacob, của Isaac, không phải của các nhà khoa học hay triết gia” (Feu. Dieu d’Abraham, Dieu d’Isaac, Dieu de Jacob, pas des philosophes ni des savants). Ông đặt Thiên Chúa ra khỏi phạm trù lý luận. Trường phái Jansenisme mà Pacal là một thành viên cũng hướng theo quan điểm về Hồng Ân như Augustin.

Vấn đề Hạnh Phúc

Về sự « uổng phí cuộc đời » nếu tin theo một tôn giáo là một vấn nạn cổ điển. Đức Ky Tô đã khẳng định vương quốc của ngài « không thuộc thế gian này », rằng « vua của thế gian » không ai khác hơn là Ma Quỷ … Tức là hạnh phúc không thuộc đời này, mà ở đời sau. Tuy nhiên, quan điểm này khi gặp gỡ trường phái Stoicisme thịnh hành ở La Mã vào những năm đầu của công nguyên, thì đưa đến ý niệm hạnh phúc trong niềm tin, trong sự vâng phục Thiên Chúa, bất chấp những khó khăn của  sống, tức là ngay trong hiện tại. Phái stoicisme (khắc kỷ) từ chối mọi lạc thú, coi việc can đảm làm đúng bổn phận của mình là niềm vui. Hoàng Đế Marc Aurele cho rằng sự buồn đau không phải là buồn đau mà là niềm vui, niềm vui đã can đảm chịu đựng được chúng (4). Thánh Paul cũng khuyên người nô lệ nên tiếp tục làm nô lệ, dù cho mình có thể thoát khỏi tình trạng ấy, vì đó là ý Chúa (1 Corinthien,VII, 17-23). Như các nhà khắc kỷ, Paul coi sự chấp nhận là hạnh phúc … Người theo Ky Tô Giáo còn có một lý do khác để cảm thấy hạnh phúc, đó là « tin mừng » mà họ được đón nhận từ đức Ky Tô. Niềm vui ấy được bổ xung bằng nỗ lực chia sẻ nó với mọi người khác. Tâm lý học cho biết chia sẻ một niềm vui với người khác giúp tăng cường niềm vui ấy.

Khoa Học trước Đức Tin

Thái độ phủ định của khoa học trước vấn đề đức tin là điều không cần thiết, vì nó hiển nhiên. Chính những người mang Đức Tin cũng công nhận là niềm tin của họ vô lý (lời Augustin trích dẫn ở trên). Một trong những thái độ thích nghi của khoa học trước vấn đề Đức Tin, hay Thiên Chúa, là khảo sát những vấn đề ấy trên quan điểm nhân chủng, khảo cổ, xã hội và tâm lý học, để tìm xem những gì quy định chúng, và những quy luật vận hành chúng. Đứng trên quan điểm khoa học, đó là những hiện tượng, cần được khảo sát như mọi hiện tượng, với những ảnh hưởng tiên liệu được trên hệ thống tương quan xã hội (xem TƯƠNG LAI TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI HẬU TÂN TIẾN – http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=433&kind=10 – chép dán link vào navigator).

Đức Tin và vấn đề Thiện Ác

Vấn đề “đạo đức” mà tác giả đề ra trong bài, hoàn toàn chính đáng. Người tin Chúa có thể tốt lành được hay không ? Rất khó ! Vì người ấy thực sự tốt lành, hay chỉ tốt lành vì sợ bị Chúa trừng phạt, vì muốn dành một chỗ tốt trên thiên đàng, hay vì muốn được hưởng “ơn phước” nơi trần gian ? Ngược lại, một người không tin Chúa có thể tốt lành được không ? Cũng không phải dễ ! Kant nói : không ai làm điều xấu vì sự xấu, mà vì sự khoái lạc của mình, tức là một điều tốt (on ne fais pas le mal pour le mal, mais pour son plaisir, ce qui est un bien). Khi anh thích làm một chuyện được coi là “xấu”, thì vì lý do gì anh phải chọn hy sinh sự khoái lạc của mình để làm điều tốt, thay vì làm điều xấu, nếu không có một sự thưởng phạt mà anh không thể tránh được, sẽ đuổi theo anh ngay cả sau khi chết ? Nếu cuộc sống thực sự chấm dứt khi từ trần, ai cũng như ai, thì việc gì tôi phải hy sinh cho bất cứ lý do gì ? Có thể nào một người lính Cộng Sản, vô thần và duy vật « trong bản chất », luôn tin tưởng rằng con người chỉ là « vật chất động », sẽ chết như chó chết, lại sẵn sàng xung phong trước lằn đạn của đối phương ? Để làm gì ? Nhân chủng cũng như khảo cổ học, cùng với thuyết tiến hóa, và trong ngắn hạn, neuroscience, có thể giải thích được phần nào điều này. Tôi có trình bày sơ qua trong bài : « Thượng  Đế và Thần Linh được tạo ra như thế nào ? » (http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=388&kind=10)

Vai trò của hiện hữu phi vật chất

Vấn đề một sự hiện hữu phi vật chất cũng là một đề tài lý thú. Vật chất vẫn còn nhiều bí ẩn đối với khoa học. Ít nhất là ba vấn đề lớn vẫn còn chưa được giải đáp : vấn đề « phản vật chất » (3), vấn đề vật chất « tối », và vấn đề năng lượng của chân không.  Tức là chúng ta chưa biết rõ vật chất như thế nào (có khi nào thực sự biết rõ được hay không ?), và cũng chưa biết rõ những gì « bên cạnh » vật chất. Ngoài ra, có những sự hiện hữu « phi vật chất », nhưng lại có một vài trò rất quan trọng. Thí dụ  âm thanh là một hiện tượng vật lý, nhưng muốn trở thành tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, thì phải cần đến ngôn ngữ, là một hiện tượng phi vật chất. Nếu không nắm được ngôn ngữ, như trường hợp anh em chúng mình rủ nhau nghe một chương trình phát thanh bằng tiếng Swahili, thì âm thanh nhận được chỉ là những tiếng động vô nghĩa, không thể là một bài thơ, một câu chuyện, một bản tin (5) … Chúng ta biết rằng ý thức, suy tưởng, cảm nhận, trí nhớ v.v… đến từ những phản ứng điện lực và hóa học của hệ thần kinh. Thật ra những hoạt động có tính cách vật lý ấy có đủ để tạo ra tất cả những gì sinh hoạt tâm trí của chúng ta hay không ? Phải chăng chúng cũng chỉ như những âm thanh, còn cần phải có một “ngôn ngữ”, tức một cái gì phi vật chất, để thực sự làm ra được tư tưởng, cảm xúc, v.v… ? Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài “Ontogenese et Phylogenese”

(http://pagesperso-orange.fr/nguyen.hoai.van/ontogenese_et_phylogenese. htm)

sẽ được dịch sang tiếng Việt trong một ngày gần đây (bản tóm tắt tiếng Việt :http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=118&kind=1 )

Một quan điểm về sự đồng nhất giữa Thiên Chúa với vật chất cũng cần được ghi nhận. Ấn Giáo cho rằng mọi sự hiện hữu đều là thể hiện của Brahma. Spinoza cho rằng Thiên Chúa là toàn bộ thế giới tự nhiên (Deus sive Natura). Như thế, nhà khoa học, khi nghiên cứu vật chất, cũng chính là tìm hiểu … Thiên Chúa ! Dung hòa hai quan điểm vừa kể, chúng ta có thể nghĩ rằng vật chất và những gì quanh nó, là những hiện tượng tương tự như âm thanh trong một tiếng nói, còn cần đến một yếu tố phi vật chất như ngôn ngữ để mang một ý nghĩa, để trở thành cái thế giới mà chúng ta thường cảm nhận hàng phút, hàng giây …

§§§§§§§§§

Các vấn đề này thực sự không dễ, ít ra là đối với tôi. Nên xin chia sẻ một cách rất khiêm nhượng với quý anh chị, và đặc biệt với tác giả Trần Tiên Long, nhân được đọc và cảm phục bài viết của anh. Mong sẽ được đón nhận những ý kiến của anh Long và quý anh chị.

Nguyễn Hoài Vân

8 tháng 1 năm 2010

Chú thích :

(1) Câu này ngược lại với surate “Noor al noor” (ánh sáng của ánh sáng) của kinh Coran : ánh sáng trí tuệ của Thiên Chúa soi sáng trí tuệ của con người.

(2) Trên thập giá, khi kêu lên “sao Chúa bỏ tôi ?”, đức Ky Tô cũng phát biểu một sự hoài nghi to lớn, chứng minh cho nhân tính của ngài (là người thật – và đồng thời là Thiên Chúa thật – chứ không phải là Thiên Chúa giả trang làm con người).

(3) Cơ quan CERN vừa lưu giữ được trong 1 phần 10 của 1 giây, 38 phản nguyên tử Hyrogen. Nếu sự tiến bộ này được duy trì thì người ta sẽ có thể nghiên cứu những đặc tính của phản vật chất, như ảnh hưởng của lực hấp dẫn trên chúng (được « buông ra », chúng sẽ « rơi xuống » hay sẽ « bay lên » ?)

(4) Ông viết, trên bờ sông Danube, giữa một cuộc chinh chiến rất hãi hùng (phim « Gladiator » với Russel Crowe hay « The fall of the roman empire » với Sophia Loren …) : A propos de tout ce qui provoque en toi la tristesse, souviens-toi d’user de ce dogme: non seulement ceci n’est pas un malheur, mais c’est un bonheur de le supporter avec courage – Marc Aurèle.

(5) Bất quá hiểu được câu « hakuna matata » nhờ xem « Lion King » …

(xin đọc bài đáp lời của Trần Tiên Long ở trên)

————–



Kính thưa anh Trần Tiên Long,

Xin cảm ơn bài trả lời của anh. Anh nghĩ đúng : tôi không có một lập trường cố định, và những gì tôi trình bày chỉ là sự liệt kê những biện minh có thể có, cho các vấn đề được đưa ra. Riêng tôi, thành thực mà nói là tôi có thể đào xâu vài giả thuyết mà tôi thấy thích thú, nhưng bảo là “theo”, thì đúng là một ngưỡng cửa mà tôi chưa bước qua được !

Thí dụ hôm nay tôi có nói chuyện về các cách chứng minh Thượng Đế. Tôi trình bày các lập luận như “preuve ontologique” (bằng chứng “bản thể”), của Anselme, Descartes v.v.., lập luận của Berkeley, ý tưởng về “Thiên Chúa của Whitehead” (một nhà toán học), ý tưởng về một “trạng thái tri hành” gắn liền với vật chất ở mọi trình độ, tôi suy ra từ cấu trúc chủ nghĩa và lý thuyết của Saussure về ngôn ngữ, giả thuyết “ý thức” độc lập với vật chất (có khi tôi dùng đến trong tâm lý trị liệu), và vài thứ linh tinh khác … Chắc chắn còn nhiều lý thuyết khác mà tôi chưa được biết.

Lập luận để phủ nhận Thượng Đế thì không có gì cần khai triển nhiều, vì như anh đã cắt nghĩa, chỉ cần tuân theo luận lý cơ bản.

Về “nhân tính” của Thiên Chúa, chúng ta có thể ghi nhận đóng góp tương đồng của Phật Giáo và Ky Tô Giáo. Cả hai đều quan niệm Phật, hay Chúa ở trong chúng ta. Câu “Chúng sinh thị Phật” hay câu của Đức Ky Tô “con là một với Cha, và họ làm một với con” đều cho thấy một sự hợp nhất giữa con người và Phật, Chúa. “Tin Mừng” của Ky Tô Giáo chính là “khám phá” ấy …

Antimatter tôi cũng dịch là “phản vật chất”. Nó cũng là vật chất dù các đặc tính của nó chưa được biết nhiều …

Câu của Einstein mà anh trích dẫn chỉ có giá trị cho những cấu trúc vật chất ở trình độ cao. Trong vật lý lượng tử thì có thể “vừa là thế này, vừa là thế khác” (flou quantique – Heisenberg – phương trình Schrodinger …). Đối với sự sống, thì các nhà luận lý học, từ Heraclite, và sau này Hegel và Marx đưa ra luận lý biện chứng (sự vật là và không là …), thay cho luận lý hình thức (hoặc là, hoặc không là – nguyên tắc triệt tam của Aristote). Biện chứng của Hegel đưa đến Thiên Chúa (hợp đề tối thượng), trong khi Marx thì … không :-)

Xin đồng ý với anh về đạo đức phi tôn giáo. Vấn đề chỉ là cắt nghĩa nó. Tôi đã viết về đề tài này ở nhiều chỗ (đại khái : sự di truyền của “ý thức hợp tác” nơi những cộng đồng người nguyên thủy, từng giúp cho các cộng ấy tồn tại, truyền đến ngày nay, hóa thành ý thức “thiện ác”). Phim “Gran Torino” đem lại một cái nhìn lý thú về đề tài này. Xem :http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=243&kind=2

Tôn giáo có những đóng góp của nó, và có thể tốt hay xấu, tùy thời đại, tùy nơi chốn, tùy cấu trúc xã hội, và tùy … tôn giáo :-) Có những quan điểm cho rằng tôn giáo là một thành tố không thể thiếu trong một xã hội (Emile Durkheim). Hay Max Weber cho rằng Cách Mạng Kỹ Nghệ và Tư Bản Chủ Nghĩa đến từ … đạo Tin Lành !

(xem: http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=433&kind=10).

Ngay đến Marx cũng công nhận vai trò tích cực của tôn giáo trong nhiều trường hợp …

Về hạnh phúc, xin thêm là : hạnh phúc đòi hỏi thời gian, trong khi lạc thú là chuyện giai đoạn. Thời gian luôn hủy diệt, làm hư hoại, nên chúng ta có thể dễ có lạc thú, nhưng nếu tin vào hạnh phúc thì chính là mù quáng phủ nhận thời gian … Nhiều tôn giáo ý thức điều ấy nên dời hạnh phúc sang “đời sau”, khi thời gian không còn ảnh hưởng, cho tiện đường dư luận !

Nói chung, tôi không có gì để phản bác những lý luận của anh. Có chăng là thêm thắt gợi vài suy nghĩ cho vui thôi. Giả sử có được chút hữu ích, thì chỉ là cho thấy trong suốt dòng lịch sử, nhiều quan điểm đã được đưa ra, nhiều cuộc hành trình tâm trí đã được thực hiện. Chúng đều tuân theo những quy luật và ưu tư rất “người”. Chúng ta có thể chia sẻ những ưu tư, thắc mắc ấy, mặc dù không nhất thiết đồng ý với những kết luận, những điểm đến, của mọi suy nghĩ (*).

N.H.Vân

(*) đương nhiên là phải chống lại những quan điểm cực đoan quá khích …

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 22, 2011 in Khảo Luận

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: