RSS

A. De Rhodes: Những Thao Tác Sai Lầm Ðể Tái Vinh Danh

20 Mar

(Tiến sỹ Bùi Kha)

Hôm qua, có người email đến tôi bài của ông Nguyễn Ðình Ðầu phản bác lại bài của GS. TS Phạm văn Hường viết về Lm. Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Bài của ông Nguyễn Đình Đầu viết bằng văn phong nặng và một thái độ quyết liệt “đính chính”. Việc phản biện nầy của ông Nguyễn Ðình Ðầu đúng hay sai xin để cho GS Hường có ý kiến. Nhân dịp nầy, tôi muốn biện chính một số sai lầm nghiêm trọng của vài người, trong đó có ông Nguyễn Ðình Ðầu, đã viết về Lm Ðắc Lộ để từ đó đưa đến việc tái vinh danh sai lầm về giáo sĩ nầy.

Lúc vinh danh hay tái vinh danh Lm Ðắc Lộ, người ta nghĩ rằng chính giáo sĩ nầy là người đầu tiên có sáng kiến dùng mẩu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt mà chúng ta thường gọi là chữ Quốc ngữ. Nhưng trong lời nói đầu “Cùng bạn đọc” (trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La) chính Ðắc Lộ đã nói rõ rằng ông không phải là người đầu tiên có sáng kiến dùng mẫu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt mà ông học tiếng Việt với người dân Việt và với các Cha khác trong hội Dòng (tôi cũng đã trích dẫn trong một bài viết trước đây) nên nay không nhắc lại nữa.

Nhân bài viết của ông Nguyễn Ðình Ðầu phản bác một cách bực dọc với GS Phạm Văn Hường, tôi có mấy điều cần biện chính với ông Nguyễn Ðình Ðầu cũng như với vài đồng nghiệp của ông như sau :

1. A. de Rhodes (Rốt, Ðắc Lộ) có công hay không?

Tôi nghĩ khi muốn vinh danh hay tri ân một người nào đó, chúng ta nên và cần tìm hiểu mục đích và dụng tâm của người đó. Các giáo sĩ có sáng kiến dùng mẫu tự La tinh phiên âm tiếng Việt để dễ dàng trong việc truyền đạo, chứ các giáo sĩ nầy, ngay cả các ông Pina, Amaral và Barbosa, cũng chưa bao giờ nói rằng tôi có sáng kiến dùng mẫu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt nhằm giúp cho người bản xứ Việt Nam dễ biết đọc biết viết ngôn ngữ của họ hơn là dùng loại chữ tượng hình như chữ Nho. Ngay cả A. de Rhodes cũng xác nhận trong lời nói đầu cuốn Từ điển Việt-Bồ-La dưới tiêu đề Cùng Bạn Ðọc rằng: “Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn, vì ngoài những tiện lợi khác, nó còn giúp cho chính người bản xứ học tiếng La tinh.” Như thế, Rốt thêm phần La-tinh vào cuốn Từ điển đã có sẵn chỉ nhằm mục đích giúp cho người Việt Nam học tiếng La tinh mà thôi. Người Việt học tiếng La tinh với mục đích gì chúng ta không nghe Rốt đề cập. Còn một số giáo sĩ như Giám mục Puginier thì nói rất rõ mục đích sử dụng chữ quốc ngữ của ông:

“Từ lâu, tôi chủ trương dạy và dùng chữ Châu Âu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà đã sáu lần tôi đề nghị. Nhưng tôi sung sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta hoạt động tích cực trong mục đích này: Ngoài trường dạy tiếng Pháp của phái bộ là trường đầu tiên được thiết lập ngày 8-12-1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5-4-1885.

Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu Châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy đọc và viết tiếng An nam bằng chữ Châu Âu. Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần dà bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.

Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An nam và phe trí thức An nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần.

Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông.” (Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam, trang 386 – 388).

Trong lúc các giáo sĩ vào thế kỷ 17 đã có sáng kiến phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh đễ dễ truyền đạo và về sau, Giám mục Puginier đã sử dụng lọai chữ viết Âu hóa nầy để cắt đứt nền văn hóa Việt Nam với quá khứ để dễ đồng hóa dân tộc ta như đã dẫn ở trên, thì nhân dân ta trong đó có con chiên, thầy đồ, sư sải đã lợi dụng sáng kiến chữ Việt bị Âu hóa để phát triển thành một ngôn ngữ mà chúng ta gọi là quốc ngữ như ngày nay (Theo Gs. Roland Jacques trong bài “Ai là người thật sự sáng chế ra chữ Quốc ngữ”, tạp chí Huế, Xưa & Nay số 62 tháng 3-4/2004 của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương).

Vì không nhằm vào mục đích lợi ích cho dân tộc Việt trong việc La tinh hóa chữ quốc ngữ, do đó, các giáo sĩ nêu trên không có công gì với dân tộc ta để vinh danh họ trong vấn đề nầy cả, nhất là ông A. de Rhodes.

Ðó là chưa nói đến giáo lý của tôn giáo độc thần nầy mà các giáo sĩ như Ðắc Lộ truyền đến Việt Nam trong các thế kỷ trước đã là nguyên nhân gây tang tóc cho dân tộc ta trong thời Pháp thuộc và di họa vẫn còn tồn tục cho đến ngày nay. Ðây là một vết hằn đau thương cho vận nước mà chúng ta nhắc lại ở đây cũng chỉ nhằm để đánh giá lại cho đúng cái phương tiện và công cụ của chữ quốc ngữ chứ không phải nhằm khơi lại đống tro tàn để tạo bất hòa giữa những người lương và giáo.

2. Có tội hay không?

Riêng LM. Rhodes, ông không phải là người đầu tiên có công dùng mẫu tự La tinh để phiên âm tiếng Việt như một số người đã cố tình gán gép sai lầm vì, mục đích chính trị hay tôn giáo hoặc vì thiếu sử liệu, trái lại, Lm Ðắc Lộ càng nên bị khiển trách, thậm chí cần nên lên án, vì ông là người đầu tiên đã vận động Pháp xâm chiếm nước ta qua đoạn trích dẫn dưới đây do chính ông viết trong Divers voyages et missions (Hành trình và truyền giáo, bản dịch của Linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Ủy ban Ðoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994, trang 263):

Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng.”

Trong bản dịch nầy, trang 289, Linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên lại chú thích một cách tùy tiện cụm từ “Plusieurs soldats” là “chiến sĩ Phúc âm, tức là các nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm cứ xâm lăng.” Rập khuôn theo cách chú thích cưởng từ đoạt ý ấy, trong một bài viết có tựa đề “Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau” ông Chương Thâu, một giáo sư Viện Sử học Hà nội, thao diển: “Ðiều đáng chú ý là: người dịch bám rất sát văn cảnh(sic) và dịch tương đối thoát…”. Ði từ nhận định sai lạc có dụng tâm nầy, ông Chương Thâu lại phê bình một đoạn trong luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần (Ðạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực dân tại Việt nam) và phê bình một đoạn khác của sử gia người Anh Helen B. Lamb trong cuốn Vietnam’s Will to Live (Việt Nam, Ước Vọng Sống Còn). Ông Chương Thâu cho rằng hai người nầy (thầy của những bậc thầy, Bùi Kha) đã hiểu sai nghĩa (sic) của cụm từ “Plusieurs soldats”.

Trong một đoạn khác của bài viết nói trên, ông Chương Thâu phê bình Gs Hoàng Tuệ: “Giáo sư Hoàng Tuệ trong cuộc Hội thảo Quốc tế về “Nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt nam”…họp tại Hà Nội những ngày 3,4,5 tháng 12 năm 1992, có đọc bản tham luận Về sự sáng chế chữ quốc ngữ, trong đó có đề cập đến vai trò của A. de Rhodes và có “dẫn dụng” câu trên của A. de Rhodes (nhưng lại không trích trực tiếp từ tác phẩm Hành Trình Và Truyền Giáo, nguyên bản của A. de Rhodes…, và cũng không trích trọn câu đủ ý) …

Có thể nghĩ là chữ Quốc ngữ, ngoài ý nghĩa thực dụng, còn có ý nghĩa chính trịnhất định trong phạm vi các Giáo Hội khác ở Việt nam.” Ông Chương Thâu viết tiếp:

“Do có ý kiến “tham luận” như vậy, nên nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu tại cuộc Hội Thảo này đã có ý kiến trao đổi lại với giáo sư Hoàng Tuệ như sau:

“Qua đoạn vừa trích trên đây, người đọc có cảm tưởng Giáo Sư Tuệ đã ám chỉ A. de Rhodes là thân Pháp, xui Pháp đem binh lính xâm chiếm phương Đông và “chữ Quốc ngữ”… “còn có ý nghĩa chính trị”.

“Và đến lượt, ông Nguyễn Đình Đầu đã dịch lại câu trên của A. de Rhodes đồng thời “chú thích một số từ dùng trong câu của A. de Rhodes, cũng là nhằm “đối thoại” và “biện minh” với giới nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn, như sau”:

“Tôi tin rằng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn phương Đông và đặt dưới quyền trị vì của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt tại Pháp (ông NÐÐ thêm mấy chữ “đặc biệt tại Pháp”, BK), tôi sẽ tìm cách có được Giám mục, các ngài sẽ là cha và là thầy chúng tôi tại các Giáo Hội này” (tức là Đàng Ngoài và Đàng Trong).

Ông Nguyễn Đình Đầu biện giải thêm: Nếu đọc nguyên đoạn trích trên đây, ta mới hiểu chữ chiến sĩ có nghĩa bóng là thừa sai (đối với giám mục là cha và thầy họ). Còn “chinh phục toàn phương Đông” là để cho “nước Cha trị đến”, chứ không phải để cho Pháp đến thống trị. “Chinh phục” hiểu theo nghĩa tôn giáo, chứ không phải chính trị. Vì ngộ nhận trên, người ta mới gán cho chữ quốc ngữ “còn có ý nghĩa chính trị” vậy!”

Ông Chương Thâu, trong bài viết, cũng còn cho biết:

“Cũng vào thời gian cuối tháng 3-1993, tại một cuộc Hội Thảo “Tưởng niệm A. de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh của ông” do Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam tổ chức tại Hội Trường Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam, có nhiều nhà khoa học tham dự, đọc tham luận. Trong đó Giáo Sư Sử Học Đinh Xuân Lâm, một lần nữa lại đề cập “câu chữ” trên đây của A. de Rhodes và dịch lại (theo đúng văn cảnh, bối cảnh lịch sử thế kỷ 17) cụm từ “plusieurs soldats” là chiến sĩ” truyền giáo, vào coi như “lần cuối cùng đính chính lại sự lầm lẫn (dịch soldat là lính chiến, là quân lính đi xâm lược) như trước đây trong một số “giáo trình lịch sử Việt Nam” đã dẫn dụng.

Chính trong cuộc Hội Thảo đó của Hội Sử Học đã đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thẩm quyền (Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Văn Hóa v.v…) nhằm “khôi phục” vị trí xứng đáng cho linh mục A. de Rhodes, người đã góp phần quan trọng trong việc chế tác ra chữ Quốc ngữ cũng như một số hoạt động văn hóa (trứ tác các công trình sử học giá trị).

Cũng do vậy mà hiện nay, đã có quyết định khôi phục lại tên đường phố Đắc Lộ ở thành phố Hồ Chí Minh, dựng lại “bia 1941″(1) tại khuôn viên Thư Viện Quốc Gia ở Hà Nội v.v…

Vấn đề “đánh giá” thỏa đáng công lao của A. de Rhodes đối với nền văn hóa Việt Nam, đến nay, theo tôi được biết, đã có thể về cơ bản đáp ứng đúng đắn được “tâm cảm” của mọi người. Chúng ta thành kính ghi nhận tầm nhìn sáng suốt của các giới lãnh đạo của Đảng và của Nhà Nước ta đối với danh nhân văn hóa Alexandre de Rhodes. Các công trình trứ tác có giá trị của A. de Rhodes, như Từ Điển Vi?t-Bồ-La, Phép Giảng Tám Ngày, Hành Trình Và Truyền Giáo, Lịch Sử Xứ Đàng Ngoài cũng đã được in ấn, xuất bản lần lượt trong mấy năm qua và được bạn đọc đón nhận một cách trân trọng. Điều đó nói lên rằng, nhân dân ta biết rất rõ “chân giá trị” của A. de Rhodes và cũng đã dành cho ông một vị trí xứng đáng.”

3. Nhận xét về ý kiến và cách dịch thuật của Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, các ông Chương Thâu, Nguyễn Ðình Ðầu và Ðinh Xuân Lâm:

Trong một bài viết, cuối tháng 7.1996, có tựa đề “Góp ý với Gs Chương Thâu về vai trò của Linh mục A. de Rhodes và nguồn gốc chữ Quốc ngữ”, đăng trong Giao Ðiểm số 24 tháng 9. 1996, tôi đã đưa ra 6 luận điểm để chứng minh cách dịch tùy tiện và đầy thiên kiến tôn giáo của các ông vừa nêu tên. Sau đây tôi chỉ sơ lược vài điểm chính:

    1. Chữ “soldats” có nghĩa là lính chiến, người có súng để đánh giặc, chữmissionnaires mới có nghĩa là lính thừa sai hoặc giáo sĩ. Chữ “quelque” mới có nghĩa là một vài (mấy). Còn chữ plusieurs có nghĩa là nhiều, nhưng Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch là “mấy”(binh lính) để làm nhẹ tội cho Lm A, de Rhodes.

    2. A. de Rhodes viết rất rõ “Tôi nghĩ Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh lính” (plusieurs soldats). A. de Rhodes xin nước Pháp hay nói đúng hơn là xin chính phủ Pháp, chứ không xin giáo hội Pháp. Mà trong chính phủ Pháp thì không có lính thừa sai (tức là các giáo sĩ).

    3. Sở dĩ ông không xin Giáo hội Pháp vì từ năm 1493, lúc Giáo hoàng Alxander VI ký sắc lệnh chia thế giới cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha có quyền truyền đạo và chiếm đất ở Á châu nên giáo hội Pháp không thể chen chân vào phương Ðông. Vì thế A. de Rhodes chỉ có thể xin binh lính hay xin cái gì khác ở một định chế thế tục như chính phủ Pháp mà không thể nhờ được gì trong Giáo hội Pháp.

    4. Cụm từ “Thy heaven come” mới có nghĩa là “Nước Cha trị đến”. Cụm từ nầy ở trong cuốn kinh Lạy Cha mà bất cứ một con chiên bình thường nào cũng biết. Thế mà ông Nguyễn Ðình Ðầu giám sửa kinh Lạy Cha của Công giáo bằng cách lập lờ dịch và chú thích cụm từ “La conquête de tout l’Orient” là “Nước Cha trị đến”. Thật là hết chỗ chê! Còn Lm Hồng Nhuệ dĩ nhiên là cười thầm một cách khoái trá và mĩa mai vì người ta đã trúng kế mình, chứ chẳng lẻ một người có tiến sĩ Thần học (mà ông Nguyễn Ðình Ðầu gọi là tiến sĩ thứ thiệt) viết về cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” (một tác phẩm với ngôn từ hung hản thiếu văn hóa của A. de Rhodes) lại không biết cụm từ “Nước Cha trị đến” tiếng Anh là gì và do đâu mà có?

    5. Phê bình Gs Hoàng Tuệ “trích không trọn câu đủ ý”, nhưng chính ông Chương Thâu, Ðinh Xuân Lâm và đặc biệt là ông Nguyễn Ðình Ðầu và Lm. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên mới là những người trích không trọn câu đủ ý. Các ông chỉ trích dẫn một đoạn ngắn trong cuốn “Hành Trình và Truyền Giáo” của A. de Rhodes rồi biện bạch để chinh phục các hội thảo viên khác và lờ đi các đoạn chính kế tiếp để thao tác nghĩa ngữ một cách tùy tiện. Ðể độc giả tiện theo dỏi và đối chiếu, tôi trích lại trọn vẹn vài đoạn văn ấy để biết chính xác quan điểm chính trị của Lm A. de Rhodes và việc dịch thuật, cũng như chú thích tùy tiện hai cụm từ vừa nêu trên của các ông Chương Thâu, Nguyễn Ðình Ðầu và Ðinh Xuân Lâm. Từ đó, các ông đã thao tác và lạc dẫn các hội thảo viên không có tài liệu. Sau đây là các đoạn văn liên tục của A. de Rhodes trong cuốn “Hành Trình Và Truyền Giáo” đã dẫn:

“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng”(trang 263).

“Tôi đi qua Marxây và Lyon rồi tới Paris; theo tôi thì Paris là thu gồm hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất nầy.” (cuối trang 263). A. de Rhodes viết tiếp:

(a) “Trên đường từ Lyon tới Paris, tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Ðể ra mắt ở Pháp, tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy.” (chữ đậm là Bùi Kha muốn nhấn mạnh). “Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngài nhiều nhân đức và thương yêu, suốt đời tôi, tôi sẽ quý mến công ơn và sẽ đề cao cuộc hội ngộ may mắn nhất trong suốt các hành trình của tôi.

(b) “Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Batư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cỏi đất” (trang 264).

(c) Chú thích của Bùi Kha về hai ông “thánh” mà Lm. A. de Rhodes nói đến trong đoạn văn vừa trích dẫn:

Thánh Inhaxu“Từ lúc Ignatius (tức là Inhaxu) chết năm 1556 các giáo sĩDòng Tên đã chiến đấu chống lại các người khác tôn giáo ở Ấn độ, Trung hoa, Nhật, Tân thế giới, và đặc biệt là miền Nam nước Pháp và Tây Đức” (When Ignatius died in 1556, his sons fought against the heretics in India, China, Japan, the New World, especially in Southern France and Western Germany (Linh Mục Edmond Paris The Secret History of the Jesuits, 1975, p.24).

“Thánh” Phanchicô Xavie (Francis Xavier) là môn đệ khét tiếng của Inhaxu (nói ở trên). Kinh “Nhật Khoá” của Giáo phận Sài gòn, được Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt y, ngày 19.3.1971, có đoạn cầu ông “thánh” Phan-xi-cô Xa-vi như sau:

-“Ông Thánh Phan xi cô là môn đệ rất xứng đáng của ông Thánh I-nha-xi-ô (Ignatius)

  • là quan thầy các nước Đông phương

  • là kẻ nghịch đạo dị đoan

  • phá tan đạo bụt thần ma quỉ

  • là lính rao tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”

Ðoạn văn trên có nghĩa là những ai khác tôn giáo; không thờ Chúa, đều là những mọi rợ ma quỷ cần phải tiêu diệt.

Tôi trích thêm hai đoạn ở trang kế tiếp cũng trong cuốn Hành Trình Và Truyền Giáo, ghi số (a), (b) và chú thích (c) để làm sáng rõ thêm nghĩa của hai cụm từ “Plusieurs soldats” và “La Conquête de tout l’Orient” (phải được dịch là nhiều lính chiến có súng để chinh phục phương Ðông). Thật vậy, Lm. A. de Rhodes đã vào trong triều gặp Hoàng hậu vợ vua Louis thứ XIV để vận động xin binh lính. Ông còn cho biết “chưa công bố thánh chiến chống lại mọi địch thù…” Thánh chiến chống địch thù thì phải có lính hoặc ít lắm cũng là người có khí giới. Thêm vào đó, Lm. Rhodes nhắc đến sứ mạng của hai ông “Thánh” giáo điều cực đoan mà tôi đã chú thích ở mục (c).

Với ba sự kiện vừa nêu, tôi nghĩ cũng đã làm sáng tỏ nghĩa ngữ của hai cụm từ đang bàn cải, đồng thời cho thấy việc dịch thuật và chú thích tùy tiện của bốn ông đã nêu trên.

Những tiết lộ của ông Chương Thâu qua hai lần Hội thảo 1992 và 1993 cho chúng ta thấy Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, các ông Chương Thâu, Nguyễn Ðình Ðầu và Ðinh Xuân Lâm đã chi phối và khuynh loát Hội thảo, và hầu như nhiều hội thảo viên khác vì chưa từng đọc các cuốn Từ điển Việt-Bồ-La, chưa đọc cuốnHành Trình Và Truyền Giáo cũng như cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Lm. A. de Rhodes nên đã sai lầm trong việc “đưa ra nhiều kiến nghị” để khôi phục địa vị cho một người đã vận động thực dân Pháp xâm chiếm và sau đó đô hộ nước ta.

Ðiều cần nói thêm ở đây là ông Chương Thâu không nên đem sự sai lầm của cá nhân để gán cho cả một dân tộc trong câu “nhân dân ta biết rất rõ chân giá trị của…”. Và ông căn cứ vào đâu và có đọc cuốn Phép Giảng Tám Ngày không để ông cho đó là một tác phẩm văn hóa giá trị? Trong cuốn sách nầy Lm Ðắc Lộ (A. de Rhodes) mạt sát, mạ lỵ Khổng giáo, Lão giáo, gọi các người theo đạo thờ ông bà tổ tiên là ma quỷ, còn Phật Thích Ca thì ông giáo sĩ biểu lấy dao mà chém cho gục ngã.

Còn Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên viết luận án Tiến sĩ Thần học về cuốnPhép Giảng Tám Ngày của Lm A. de Rhodes, có lẻ vì thế nên tư cách hai người giống nhau. Đúng là thầy sao trò vậy (Like teacher like student). Thật vậy, bài tham luận của Gs Hoàng Tuệ viết đúng sự thật nhưng vì không đúng ý của mình nên đã bị Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên viết bài mạt sát và mạ lỵ bằng những ngôn từ thiếu văn hóa như “ngu, dốt”, được nhắc đi nhắc lại đến 15 lần trong một bài viết ngắn đăng trên tạp chí Ngày nay, Texas, 1993, có tựa đề “Gởi Giáo Sư Hoàng Tuệ – Bàn Về Chữ Quốc Ngữ Trên Tờ Tuổi Trẻ.” Một người mà ông Nguyễn Ðình Ðầu ngưỡng mộ và đánh giá là “Tiến sĩ thứ thiệt” trong bài phản biện Gs Phạm Văn Hường, thì lại có hai đặc điểm: Dịch thuật và chú thích tùy tiện, còn văn phong thì hạ cấp và có tính áp đảo người khác ý kiến với mình.

Tóm lược: Từ trước đến nay, A. de Rhodes được tôn vinh sai lầm vì “ai” cũng nghĩ rằng ông là người đầu tiên có sáng kiến phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh, thậm chí trong nhiều năm dài, mọi người còn nhầm lẫn cho ông là người “sáng chế” ra chữ quốc ngữ và là tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La nhưng chính A. de Rhodes, chứ không phải người nào khác, đã chối bỏ điều đó trong Lời Nói Ðầu của cuốn Từ điển ấy.

Chính phủ Pháp tôn vinh A. de Rhodes thì mang đầy tính chính trị và văn hóa thuộc địa. Hai chính phủ Công Giáo ở miền Nam Việt Nam trước 1975 thì tôn vinh A. de Rhodes vì lý do chiến lược và mặc cảm tôn giáo, còn nhiều nhà nghiên cứu đứng đắn thì thiếu sử liệu để biện chính.

Sau hai lần Hội thảo, 1992 và 1993, tại Việt Nam, A. de Rhodes được tái vinh danh vì căn cứ theo các kiến nghị của các nhà “nghiên cứu” thiếu sử liệu hoặc chưa có sử liệu để đọc nên đã có những kiến nghị sai lầm đáng tiếc. Thêm vào đó, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, vì vô tình hay không đọc vài tác phẩm của A. de Rhodes, nên đã không biết quan điểm chính trị của ông giáo sĩ nầy. Còn Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và các ông Chương Thâu, Nguyễn Ðình Ðầu và Ðinh Xuân Lâm, tuy có sử liệu nhưng lại thiếu thành thật trong việc trích dẫn, nên đã thao túng thành công trong một “chiến dịch văn hóa” sai lầm đầy lý do tôn giáo.

Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta cần có một ban nghiên cứu độc lập để thẩm định lại việc vinh danh sai lầm một số nhân vật mà A. de Rhodes là một, để tránh tình trạng khinh thường kẻ đáng kính và kính trọng kẻ đáng khinh.

Còn các ông Chương Thâu, Nguyễn Ðình Ðầu, Ðinh Xuân Lâm và Lm Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên nên công khai xin lỗi vì đã dịch thuật và chú thích tùy tiện và sai lầm có hậu ý, cũng như cố tình lèo lái và chi phối hai lần Hội thảo để vinh danh một người cần phải lên án. Việc vinh danh sai lầm nầy là một hành động làm tổn hại thể diện quốc gia.

Những nhà nghiên cứu trên thế giới và những người hiểu biết lịch sử Việt nam thời Pháp thuộc có lẻ cũng không khỏi ngỡ ngàng là một quốc gia có niềm tự hào với bốn ngàn năm văn hiến, như Việt Nam, lại vinh danh một tên quốc phạm nước ngòai mang áo tu sĩ.

Bùi Kha

10.4.2007.

(1) Bia do cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ Tịch Hội Truyền Bá Quốc Ngữ xây dặt gần đền B Kiệu – Hồ Gươm, Hà Nội.

 
2 phản hồi

Posted by on Tháng Ba 20, 2011 in 5.LỊCH SỬ

 

2 responses to “A. De Rhodes: Những Thao Tác Sai Lầm Ðể Tái Vinh Danh

  1. kinhkhoa

    Tháng Mười Hai 14, 2011 at 3:40 sáng

    Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta cần có một ban nghiên cứu độc lập để thẩm định lại việc vinh danh sai lầm một số nhân vật mà A. de Rhodes là một, để tránh tình trạng khinh thường kẻ đáng kính và kính trọng kẻ đáng khinh.

     
  2. kinhkhoa

    Tháng Mười Hai 14, 2011 at 3:41 sáng

    Những nhà nghiên cứu trên thế giới và những người hiểu biết lịch sử Việt nam thời Pháp thuộc có lẻ cũng không khỏi ngỡ ngàng là một quốc gia có niềm tự hào với bốn ngàn năm văn hiến, như Việt Nam, lại vinh danh một tên quốc phạm nước ngòai mang áo tu sĩ.

     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: