RSS

NHỮNG TRẬN BÚT CHIẾN NỔI TIẾNG GIỮA PHAN VĂN TRỊ và TÔN THỌ TƯỜNG

20 Tháng 5

Nếu nhắc đến cụ Phan Văn Trị, và ông Tôn Thọ Tường, có lẽ người Việt Nam cũng sẽ đứng về “phe” cụ Phan Văn Trị. Nhưng cuộc “bút chiến” giữa cụ Phan Văn Trị và ông Tôn Thọ Tường cũng đã để lại cho hậu thế những vần thơ rất hay.

Chúng ta có thể không có thiện cảm với ông Tôn Thọ Tường, nhưng khó ai có thể bảo ông là người thô lỗ, bất tài. Dù ông Tôn Thọ Tường bị cho là người nắm nhiều quyền lực nhưng không quyết đoán, đôi khi tỏ ra chuyên quyền lấn át vua nhưng lại nhân nhượng thái quá đối với những đòi hỏi hoàn toàn không thích đáng của người Pháp. Tuy vậy, tài văn thơ của ông cũng đáng cho hậu sinh trọng nể.

Cụ Phan Văn Trị

Thơ xướng họa của Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường với chủ đề “Tôn Phu nhân qui Thục” rất nổi tiếng; mọi người hầu như đều biết qua.

Bài xướng (của Tôn Thọ Tường) “Tôn phu nhân quy Thục (Hán)”

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán, trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam rây gió bụi,
Đá vàng chi để thẹn non sông!
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn:
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.

Bài họa (của Phan Văn Trị) “Tôn phu nhân quy Thục”

Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Một ngả trời chiều biệt cõi Đông.
Khói tỏa trời Ngô chen thức bạc,
Duyên về đất Thục đượm mầu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cương thường nặng núi sông.
Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết (1)
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng!

___________

(1) Thuật giả trộm nghĩ Tôn phu nhân gọi anh là “vương huynh” hay “hoàng huynh” mới phải, song ở đây ông cử Trị đã ép mình gọi sống sượng như thế cốt để chỉ rõ là mình nói Tôn Thọ Tường.

Sau đây là một loạt các bài xướng họa khác rất hay của ông Tôn Thọ Tường và cụ Phan Văn Trị.

Bài xướng 1

Giang san ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo,
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!

Bài họa 1

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta mới thế này,
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!

Bài xướng 2

Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ,
Ai mượn mình lo việc bá vơ?
Trẻ dại, giếng sâu, lòng chẳng nỡ,
Đường xa, ngày tối, tuổi không chờ. (1)
Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ,
Xe ngựa nào toan gỡ nước cờ.
Rủi rủi may may đâu đã chắc?
Miệng lằn lưỡi mõi hãy tai ngơ!

____________
(1) Ngũ Tử Tư người nước Sở, vì thù cha anh, chạy sang nước Ngô mưu việc báo thù, có nói: “Nhật mộ đồ viễn, đảo hành nghịch thi” nghĩa là ngày sắp tối, đường còn xa, phải nên làm việc mau gấp đảo ngược cho chóng thành công.

Bài họa 2

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ!
Người trí mảng lo danh chẳng chói,
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hòa đã sẵn trong tay thợ,
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!

Bài xướng 3

Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành,
Nghĩ việc đời thêm hổ việc mình.
Nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa,
Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh.
Hai bên vai gánh ba giềng nặng,
Trăm tạ chuông treo một sợi mành.
Trâu ngựa dầu kêu, kêu cũng chịu,
Thân còn chẳng kể, kể chi danh!

Bài họa 3

Tai ngơ sao được lúc tan tành,
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Bài xướng 4

Kể chi danh phận lúc tan hoang,
Biển rộng trời cao nghĩ lại càng…
Lên núi bắt hùm chưa dễ láo,
Vào sông đánh cá, há rằng oan. (1)
Người giương mắt ngạo đôi tròng bạc,
Kẻ ứa gan trung bảy lá vàng.
Chiu chít thương bầy gà mất mẹ,
Cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!

____________
(1) “Nhập giang nhi viết phi ngư, thùy kỳ tín giả:” Lội xuống sông mà chối là không phải đi kiếm cá, ai mà tin được!

Bài họa 4

Thân dang chẳng kể, thiệt thằng hoang!
Đốt sáp nên tro lụy chẳng càn… (1)
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giáo xóa tan hoang. (2)
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăn văn mới gặp vàng.
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc,
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.

____________
(1) Càn: Khô.
(2) Vần oan họa vần hoang, theo âm miền Nam.

Bài xướng 5

Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn,
Múa mép khua môi cũng một phồn.
Tơ vấn cánh ruồi kinh trí nhện,
Gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn.
Siêng lo há đợi cơm kề miệng,
Chậm tính nào ngờ nước đến trôn.
Hay dở chuyện đời còn lắm lối,
Múa men xin hãy chớ bôn chôn.

Bài họa 5

Khoe khoang việc phải, mới rằng khôn,
Kẻ vạy người ngay há một phồn! (1)
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ,
Hùm như thất thế dễ thua chồn.
Ngươi Nhan xá ngại dao kề lưỡi,
Họ Khuất nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động,
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.

____________
(1) Phồn: Bọn, lũ.


Bài xướng 6

Hãy chớ bôn chôn việc cửa nhà,
Sau này còn ngại nỗi đàng xa.
Ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ,
Trời mỏn lòng thương xót một già.
Lái đã vững vàng cơn sóng lượn,
Thoi toan đan dệt lúc mưa sa.
Ở đời há dễ quên đời được,
Tính thiệt so hơn cũng gọi là…

Bài họa 6

Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà,
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ,
Chìu lòn e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không nhạy,
Cung yếu chim cao bắn chẳng sa?
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch,
Làm người như vậy cũng rằng là…

Bài xướng 7

Cũng gọi là người ắt phải lo,
Có hay chịu khó mới nên trò.
Bạc mông mênh biển cầu toan bắc,
Xanh mịt mù trời thước rắp đo.
Nước ngược chống lên thuyền một mái,
Gác bao bó lại sách trăm pho.
Lòng này dầu hỏi mà không hổ,
Lặng xét thầm soi cũng biết cho.

Bài họa 7

Rằng là người trí cũng xa lo,
Nhuẫn nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực,
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ,
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ:
Đạo trời ghét vạy há soi cho!

Bài xướng 8

Đã biết cho chưa, hỡi những người,
Xin đừng tiếc hận, chớ chê cười!
Ví dầu vật ấy còn roi dấu,
Bao quản thân này chịu dể ngươi.
Trăng giữa ba thu mây cũng tỏ,
Hoa trong chín hạ nắng càng tươi.
Khó lòng mình biết lòng mình khó,
Lòn lỏi công trình kể mấy mươi.

Bài họa 8

Soi cho cũng biết ấy là người,
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười;
Ba cõi may dầu in lại cũ,
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi sao lịch,
Thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại chót đời, già cũng dại,
Lựa là tuổi mới một đôi mươi!

Bài xướng 9

Kể mấy mươi năm nước lễ văn,
Rắn dài, beo lớn, thế khôn ngăn;
Bốn đời, chung đội ơn nuôi dạy,
Ba tỉnh, riêng lo việc ở ăn.
Hết sức người theo trời chẳng kịp,
Hoài công chim lấp biển không bằng.
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ,
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng.

Bài họa 9

Một đôi mươi tuổi tính xăn văn,
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa,
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững,
Trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng.
Gió mạnh mới hay cây cỏ cứng,
Dõi theo người trước giữ năm hằng.

Bài xướng 10

Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay,
Lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy.
Đất quét đã đành bia lỗ miệng,
Chén tràn e nỗi trở bàn tay.
Nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp,
Mặt trắng xem trời cánh khó bay.
Chí muốn ngày nào cho được toại?
Giang san ba tỉnh hãy còn đây!

Bài họa 10

Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay,
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng,
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng,
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay.
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ,
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.


Bài xướng “Từ Thứ quy Tào”

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi (1)
Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi!
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,
Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

____________
(1) Vua Thuấn đi cày, có con voi cảm lòng hiếu thảo của vua, ra dẫm nát đất để cày giúp.

Bài họa “Từ Thứ Quy Tào”

Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi (1)
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?

____________
(1) Hứa: Tỉnh Hứa xương.

Bài xướng “Vịnh Thúy Kiều”

Mười mấy năm trời nhục rửa xong,
Sông Tiền Đường đục hóa ra trong.
Mảnh duyên bình lãng còn nong nả
Chút phận tang thương lắm ngại ngùng.
Chữ hiếu ít nhiều: Trời đất biết,
Gánh tình nặng nhẹ chị em chung.
Soi gương kim cổ thương mà trách,
Chẳng trách chi Kiều, trách hóa công.

Bài họa “Vịnh Thúy Kiều”

Tài sắc chi mi, hỡi Thúy Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù Viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm tri bướm dập dìu!

Ghi chú của soạn giả:

- Tất cả các sự kiện và thơ đều được trích trong “Giai Thoại Làng Nho” của cố Giáo Sư Lãng Nhân.

- Các lời bàn “góp” chen giữa các sự kiện văn học được trích lẻ tẻ từ các lời bàn loạn từ trang nhà http://www.vietland.net.

Trần Văn Giang

(Nguồn: http://vietfreefun.com)

About these ads
 
Để lại phản hồi

Posted by on Tháng Năm 20, 2011 in 8.THƠ CA

 

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: